Công nghệ sức khỏe số có khả năng cải thiện đáng kể các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, song chỉ mới đây chúng mới thực sự thu hút giới đầu tư. Đại dịch Corona đã mở ra một góc nhìn mới về lĩnh vực này, với các công nghệ đa dạng từ telemedicine (y tế từ xa) cho tới việc nghiên cứu và thu thập dữ liệu.

Sau đây là một số xu thế sức khỏe số có khả năng trở nên phổ biến trong năm 2021.

  1. Telemedicine (Y tế từ xa)

Telemedicine là các dịch vụ chăm sóc y tế mà trong đó bác sỹ sẽ thực hiện tư vấn khám chữa từ xa, mà gần đây đã trở nên vô cùng phổ biến do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Xu thế này cũng đã chỉ ra rằng, việc tư vấn sức khỏe hoàn toàn có thể được thực hiện từ xa một cách dễ dàng và tiện lợi.

Nhiều chuyên gia khẳng định rằng, quy mô của các dịch vụ này sẽ còn tăng trưởng mạnh mẽ hơn trong tương lai.

Quy mô sẽ trở nên rộng lớn hơn với nhiều nhóm bệnh nhân hơn,” Nasim Farrokhnia, đại biểu hội bác sỹ số tại Thụy Điển, đã chia sẻ tại một sự kiện về Y tế – Sức khỏe gần đây.

Xu thế này rồi sẽ còn lan sang cả các lĩnh vực y tế chuyên sâu hơn, và cả các ngành nghề y tế khác như y tá, bà đỡ, chuyên viên dinh dưỡng, và cả bác sỹ tâm lý,” Farrokhnia nói.

Ngoài ra, các thiết bị y tế tại nhà như cảm biến theo dõi người bệnh cũng đang trở nên phổ cập hơn.

  1. Công nghệ thực tế ảo VR

Tính tới năm 2026, thị trường công nghệ thực tế ảo VR cho sức khỏe số được dự kiến sẽ tăng trưởng 2,4 tỷ USD trên toàn cầu, bởi lẽ nó sẽ giúp loại bỏ một số ca phẫu thuật nhỏ và việc sử dụng một số loại thuốc. Công nghệ VR hiện đang được sử dụng để chữa trị các chứng đau kinh niên, chứng rối loạn lo âu, và chứng rối loạn căng thẳng hậu sang chấn (PTSD).

  1. Các cổng sức khỏe số quốc gia và dữ liệu lớn (big data)

Các quốc gia trên khắp toàn cầu đều đang cố tạo ra các hồ sơ y tế điện tử toàn diện nhất. Còn Thụy Điển thì đã tìm ra được lời giải tối ưu. Cụ thể, tại quốc gia này, mọi cư dân đều có số ID cá nhân gọi là “PIN Thụy Điển” riêng để sử dụng cho các hồ sơ y tế. Hệ thống dữ liệu này giúp việc nghiên cứu trở nên dễ dàng hơn.

Trong thời buổi dịch bệnh bùng phát, Thụy Điển đã thành lập hệ thống Lưu trữ Chăm sóc Đặc biệt để thu thập dữ liệu về các trường hợp mắc Covid-19 cần chăm sóc đặt biệt.

Hệ thống này giúp chúng tôi theo dõi được tiến trình lây lan của Corona trong cộng đồng, và được cập nhập hầu như là hằng ngày,” Annemieke Ålenius, Giám đốc Cơ quan Sức khỏe số Thụy Điển chia sẻ. “Mọi đơn thuốc và mỗi hộp thuốc bán ra đều được ghi lại trên hệ thống, giúp theo dõi số lượng thuốc dễ dàng hơn.”

Việc sử dụng hồ sơ bệnh nhân một cách thống nhất cũng giúp hạn chế các lỗi sai khi kê đơn, cải thiện công tác phòng dịch, và phân bổ nhân lực tốt hơn.

  1. Trí tuệ nhân tạo (AI)

Trí tuệ nhân tạo sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong công cuộc chuyển đổi số của ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe. Trên thực tế, dự kiến tới năm 2025, thị trường AI chăm sóc sức khỏe được dự kiến sẽ vượt ngưỡng 34 tỷ USD.

Đa số các bệnh nhân cũng đã từng tương tác hay nghe tới công nghệ AI, từ các robot hỗ trợ cho tới chatbot chăm sóc khách hàng. Tuy nhiên, tương lai của AI trong lĩnh vực này lại nằm ở các hạng mục như Y học chính xác (precision medicine), hệ gen học (genomics), phát triển thuốc, và hình ảnh y khoa. Một ứng dụng thực tiễn là trong việc điều trị ung thư. Cụ thể, thông qua khả năng nhận diện xu thế của AI, các y bác sỹ có thể triển khai những lộ trình điều trị riêng dựa trên lối sống và kiểu gen của người bệnh.

Ngoài ra, các công ty dược và công nghệ sinh học cũng đang sử dụng những thuật toán machine learning để rút ngắn quy trình phát triển thuốc. Các nhà nghiên cứu tại Mỹ mới đây cũng đã phát triển ra một AI có khả năng nhận diện và chẩn đoán virus Covid-19 thông qua tiếng ho trong các bệnh nhân không có triệu chứng.

  1. Hợp tác xuyên biên giới

Đại dịch đã chứng minh cho chúng ta rằng, mọi quốc gia đều phải đương đầu với các thách thức y tế giống nhau.

Đại dịch đã nhắc nhở cho chúng tôi rằng, cần phải xây dựng một hệ sinh thái sức khỏe số cho toàn Châu Âu,” Julia Hagen, Giám đốc Ban Điều lệ và Chính trị, Trung tâm sáng tạo y tế Đức, chia sẻ.

Bà cũng khẳng định rằng, việc hợp tác không chỉ có ích trong thời đại Corona, mà còn đem lại chất lượng chăm sóc cao, các quy trình hiệu quả…

  1. Ứng dụng, các thiết bị đeo được, và các giải pháp tự theo dõi sức khỏe

Patrik Sundström, Trưởng ban Sức khỏe số tại một hiệp hội ở Thụy Điển, chia sẻ rằng, các nhà cung cấp đang đẩy mạnh phát triển các giải pháp tự theo dõi sức khỏe cho người mắc bệnh kinh niên, giúp giảm tới 80% chi phí quản lý và điều trị cho các bệnh lý này.

Trong khi đó, các thiết bị đeo được có khả năng hỗ trợ người bệnh tự chăm sóc bản thân và tự theo dõi tình trạng sức khỏe của mình: từ các cảm biến đo nhịp tim, máy đếm bước, cho tới các đồng hồ đo lượng đường và lượng ô xy trong máu. Đây là một thị trường vô cùng phát triển, được dự kiến sẽ vượt ngưỡng 27 triệu USD trong năm 2023.

Tại Đức, những ứng dụng nói trên có thể sẽ được bảo hiểm y tế chi trả. Vào hồi tháng 11 năm 2019, quốc gia này đã thông qua Chính sách Sức khỏe Số, trong đó cho phép bác sỹ ‘kê’ các ứng dụng y tế cho người dùng, và bao gồm các ứng dụng này trong bảo hiểm.

  1. Các tụ điểm sức khỏe số và hệ sinh thái startup

Quá trình tăng trưởng và đổi mới sẽ trở nên nhanh hơn nếu các ‘người chơi chính’ có thể trao đổi với nhau,” Paul Beatus, CEO kiêm đồng sáng lập H2 Health Hub, một văn phòng y tế chia sẻ tại Stockholm, Thụy Điển, nói. “Thông qua việc chia sẻ cùng một không gian, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội kết nối và gây dựng các mối quan hệ hơn.”

Beatus cũng chia sẻ rằng, công ty của mình thường phát hiện các giải pháp tiên tiến nhất ở các startup.

Nhiều quốc gia không hề có quy trình cụ thể nào cho việc mua, ứng dụng, và đánh giá các công nghệ sức khỏe số trên quy mô lớn,” anh nói. “Chúng tôi đã phát hiện ra rằng, chính các startup thành công với là chuyên gia trong những tác vụ này.”

Đức và Thụy Điển là hai quốc gia nổi tiếng có nhiều tụ điểm như vậy với nhiều kết quả xuất sắc. Cụ thể, tụ điểm sức khỏe số tại Nuremberg/Erlangen đã thu hút hơn 500 công ty công nghệ y học, các công ty vừa, nhỏ, và cả đa quốc gia, 65 bệnh viện, 80 cơ sở nghiên cứu, và cả Đại học Friedrich Alexander.

Theo The Next Web

Tin liên quan: