Với sự hỗ trợ của Trí tuệ nhân tạo cùng nhiều công nghệ khác, các nhà khoa học đã phát hiện hành vi đánh cá bất hợp pháp tại vùng biển Triều Tiên, với hơn 900 tàu cá nghi vi phạm.

Một nghiên cứu mới đã chỉ ra cách 900 tàu cá có nguồn gốc từ Trung Quốc đánh bắt bất hợp pháp tới hơn 160.000 mét khối mực trong vòng hơn 2 năm. Ảnh: Chu Yang/Alamy.

Nhiều đoàn thuyền đánh cá lớn của Trung Quốc đã bị phát hiện đang bí mật hoạt động trên vùng biển Triều Tiên mà cố ý tắt thiết bị định vị. Hành vi này được cho là đánh bắt bất hợp pháp và đã bị phát hiện thông qua các công nghệ AI, ra-đa, và dữ liệu vệ tinh.

Theo một nghiên cứu được đăng tải mới đây trên tờ Science Advances, khoảng hơn 900 tàu cá có nguồn gốc Trung Quốc (hơn 900 trong năm 2017 và hơn 700 vào năm 2018), đã đánh bắt hơn 160.000 mét khối mực, với giá trị vào khoảng nửa tỷ đô-la Mỹ trong vòng 2 năm. Đây là một hành vi vi phạm các điều luật trừng phạt thương mại về đánh cá ở vùng biển nước ngoài do Liên Hợp Quốc áp đặt lên Triều Tiên vào tháng 9 năm 2017, sau khi quốc gia này tiến hành thử tên lửa hạt nhân.

Các hành vi đánh cá bất hợp pháp sẽ gây đe dọa tới nguồn cá dưới biển, cũng như các hệ sinh thái biển, đồng thời gây ảnh hưởng tới những người đánh cá hợp pháp. Tuy nhiên, việc phát hiện các hành vi này lại rất khó khăn do tồn tại những “tàu cá ngầm” – tức là các tàu cá không hiển thị trên hệ thống theo dõi. Ngay cả khi những tàu này là hợp pháp, với thông tin được chia sẻ cho các hệ thống theo dõi của chính phủ, thì những dữ liệu này lại không được công khai, làm giảm đi tính minh bạch và trách nhiệm của những tàu cá đó.

Nghiên cứu có sự tham gia của các nhà khoa học tới từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc và Mỹ, trong đó kết hợp 4 công nghệ khác nhau để tổng hợp thông tin về những tàu cá này, cụ thể bao gồm: Hệ thống nhận diện tự động (AIS), hình ảnh ra-đa, ảnh hồng ngoại, và các hình ảnh quang học phân giản cao.

Trong đó, AIS là một hệ thống theo dõi tương tự như GPS, sử dụng các máy tiếp sóng để gửi vị trí của tàu trên biển tới đất liền. Tuy rằng công nghệ này cung cấp thông tin rất chi tiết về chuyển động của các tàu cá, vẫn chỉ có rất ít các tàu dùng GPS thật sự phát đi vị trí của họ.

Đa số các tàu cá đều là ‘tàu ngầm’, không xuất hiện trên các hệ thống theo dõi công khai hoặc rất ít khi phát vị trí của mình,” David Kroosdma – Trưởng ban nghiên cứu và đổi mới tại tổ chức phi lợi nhuận Global Fishing Watch kiêm đồng tác giả nghiên cứu chia sẻ. Trong số 900 tàu cá nêu trên, những tàu có sử dụng AIS đều có nguồn gốc Trung Quốc và đã từng đánh cá trên vùng biển của quốc gia này.

Để phát hiện được những tàu cá này, dữ liệu AIS thu thập được đã kết hợp với các hình ảnh ra-đa tổng hợp chụp từ vệ tinh. Kỹ thuật chụp ảnh vệ tinh xuyên qua vật cản đã giúp các nhà nghiên cứu có thể phát hiện những tàu kim loại lớn trên một số vùng biển nhất định.

Bộ đo bức xạ hình ảnh hồng ngoại (Visible Infrared Imaging Radiometer Suite hay VIIRS) cũng được sử dụng trong nghiên cứu. Trong đó, VIIRS giúp thu thập các hình ảnh vệ tinh ban đêm thông qua việc phát hiện các tàu dùng ánh sáng dụ mực lên bề mặt nước. Tuy nhiên, độ rõ nét của các hình ảnh này thường bị hạn chế bởi mây. Vấn đề tương tự cũng xảy ra với kỹ thuật chụp ảnh quang học phân giải cao – một kỹ thuật giúp xác định kiểu tàu và hoạt động của tàu, vì vậy chỉ kỹ thuật này là chưa đủ để theo dõi các tàu cá trong một số vùng biển.

Do đó, các nhà nghiên cứu đã huấn luyện một mạng nơ-ron tích chập để phát hiện các tàu sử dụng lưới vét đôi. Cụ thể, mạng nơ-ron này sẽ xác định vị trí của tàu cá, sau đó sử dụng công nghệ hình ảnh vệ tinh để xác minh xem các tàu này phải là tàu vét đôi hay không, rồi xác nhận địa điểm và kích thước của tàu. Công nghệ này cũng từng được sử dụng để nhận diện 3.000 tàu cá gỗ nhỏ, dùng ánh sáng dịu hơn – được cho là tàu cá của Bắc Triều Tiên đánh bắt trên vùng biển Nga vào năm 2018.

Như vậy, với sự kết hợp của nhiều công cụ đa dạng khác nhau, các nhà nghiên cứu đã có thể xác định được các hành vi trái phép chưa từng được phát hiện, cũng như biết thêm về các tàu cá quy mô lớn. Global Fishing Watch cũng chia sẻ rằng, đây có thể là một bước đột phá, mở ra một kỷ nguyên mới trong việc quản lý biển và đại dương, khi mà các cơ quan có thẩm quyền dễ phát hiện những hành vi đánh bắt trái phép hơn.

Dana Goward, Chủ tịch Tổ chức Resilient Navigation Foundation cho rằng việc sử dụng nhiều công nghệ để theo dõi và định vị tàu cá không phải là điều mới mẻ: “Việc này đã tồn tại từ khi GPS ra đời, nhưng song song với nhiều cách thức mới thì cũng xuất hiện những thủ thuật tránh theo dõi mới. Đánh bắt cá bất hợp pháp từ lâu đã là một vấn nạn nghiêm trọng, bởi điều đó có nghĩa là một quốc gia đang ‘ăn cắp’ tài nguyên biển của một quốc gia khác.”

Hành vi đánh bắt bất hợp pháp cũng gây khó khăn cho việc quản lý sản lượng cá để tối ưu hóa giá trị, cũng như gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái. “Nếu bạn không biết có bao nhiêu cá đã bị đánh bắt và ai đang thực hiện đánh bắt, thì việc đưa ra một mẫu số chung để quản lý đánh bắt cá là bất khả thi,” Kroosdma khẳng định.

Hàn Quốc đã đặt ra hạn mức đánh bắt mực tối đa, cấm vét lưới đôi, và chỉ cho phép ít hơn 40 tàu vét cá nhỏ hoạt động. Ngoài ra, chính phủ nước này cũng hạn chế độ sáng của đèn bắt mực. Tuy nhiên, các tàu cá Trung Quốc lại sử dụng lưới vét đôi, với số lượng lớn và độ sáng đèn cao hơn quy định cho cùng lượng mực ở vùng biển này. Theo nghiên cứu của Jungam Lee, thuộc viện Hải dương học Hàn Quốc, thì hành vi này của Trung Quốc đã khiến các ngư dân Bắc Triều – những người sử dụng thuyền cá gỗ gặp bất lợi khi phải chuyển sang đánh bắt ở vùng biển lân cận Nga.

Ngoài ra, nghiên cứu cũng ước lượng rằng, số ngày đánh bắt của các tàu cá nhỏ này đã tăng từ con số 39.000 của năm 2015, tới mức 222.000 vào năm 2018, với khoảng 3.000 tàu cá Triều Tiên thực hiện đánh bắt trong vùng biển thuộc Nga chỉ trong năm 2018. Điều này đã dẫn tới rất nhiều xác tàu bị đắm và dạt tới Nhật Bản, cùng thiệt hại về mạng người của ngư dân Triều Tiên.

Giống mực mà ngư dân Trung Quốc đánh bắt thường xuất hiện trong các vùng biển thuộc Triều Tiên, Hàn Quốc, Nga, và Nhật bản. Vì vậy, Kroosdma tin rằng, các quốc gia này cần đồng thuận về cách kiểm soát nguồn mực, điều này có thể thực hiện được nếu mọi quốc gia đều minh bạch. “Chúng ta sẽ không thể kiểm soát tốt nếu không có thông tin đủ và chính xác về số lượng đánh bắt của ngư dân,” anh nói.

Lượng đánh bắt đã giảm 80% ở vùng biển Hàn Quốc và 82% ở vùng biển Nhật Bản kể từ năm 2003, và các nhà nghiên cứu vẫn đang tiếp tục theo dõi hành vi đánh bắt cá kể cả sau khi kết thúc nghiên cứu trên. Kroosdma cũng chia sẻ rằng, hoạt động đánh bắt trong năm 2019 đã khởi sắc hơn so với 2018, song vẫn thấp hơn năm 2017. Tuy rằng mùa mực lớn nhất trong năm là vào tháng 9 và 10, nhưng họ đã phát hiện tới 450 tàu vét đôi Trung Quốc tại Triều Tiên chỉ trong năm nay.

Theo Wired

Tin liên quan: