Thuật ngữ “Permissioned Blockchain”, hay còn được gọi là Private Blockchain, đi ngược lại với các nguyên lý nền tảng của công nghệ blockchain. Tuy nhiên, trước hết ta cần phải hiểu một cách cơ bản blockchain là gì, cũng như sự khác biệt giữa blockchain công khai và riêng tư, cũng như các yếu tố được doanh nghiệp cân nhắc khi lựa chọn sử dụng công nghệ này, nhằm cải thiện kinh doanh trong cả sản xuất lẫn dịch vụ.

Blockchain là gì?

Công nghệ blockchain lần đầu được phác thảo vào năm 1991, bởi Stuart Haber và W. Scott Stornetta, 2 nhà nghiên cứu với mục tiêu là tạo ra một hệ thống mà trong đó, các dấu thời gian của tài liệu là không thể bị can thiệp. Tuy nhiên, cho tới tận 2 thập kỷ sau, tức tháng 1 năm 2009, khi Bitcoin ra đời, thì blockchain mới thực sự có những ứng dụng thực tiễn đầu tiên.

Theo Don & Alex Tapscott, tác giả của Blockchain Revolution (2016), blockchain là một sổ cái số ghi chép các giao dịch kinh tế, không thể can thiệp, và được lập tình để ghi lại mọi giao dịch tài chính cũng như mọi thứ có giá trị. Còn theo từ điển Merriam-Webster, blockchain là cơ sở dữ liệu kỹ thuật số chứa thông tin (như hồ sơ giao dịch tài chính), có thể được sử dụng và chia sẻ đồng thời trong một mạng lưới phân cấp công khai, có thể truy cập công khai.

Từ các định nghĩa trên, có thể suy ra được rằng, để có blockchain, ta sẽ cần một sổ cái số dùng cho việc ghi chép giao dịch kinh tế, được chia sẻ trên một mạng lưới nhất định, và nội dung trên sổ sẽ không thể được sửa chữa.

Trái với với quan điểm thông thường, blockchain không chỉ được áp dụng trong các giao dịch tài chính – mục đích ban đầu của công nghệ này. Thay vào đó, ứng dụng của nó rộng hơn rất nhiều, mà theo Don & Alex Tapscott thì “không chỉ bao hàm các giao dịch tài chính, mà còn lan tới mọi thứ có giá trị.”

Block chain công khai và riêng tư

Bài việt này sẽ chủ yếu xoanh quanh các tranh luận về Blockchain công khai – riêng tư. Quan điểm phổ biến là, blockchain chỉ nên được áp dụng cho các hoạt động và giao dịch cần được công khai toàn diện về bản chất, đi ngược lại tồn tại của Blockchain riêng tư (hay còn được gọi là Blockchain doanh nghiệp), dẫn tới nhiều người tin rằng, việc các doanh nghiệp sử dụng công nghệ này là không hoàn toàn thích hợp. Tuy nhiên, nhiều người lại cho rằng, blockchain công khai và riêng tư hoàn toàn có thể tồn tại song song, liên kết với nhau, ảnh hưởng tới rất nhiều nền công nghiệp, mà trong đó đã tìm ra các use case phù hợp cho công nghệ này, giúp hình thành một hệ sinh thái blockchain toàn cầu này một phong phú hơn.

Blockchain công khai

Ethereum và Bitcoin là 2 trong số các mạng blockchain công khai phổ biến và lớn mạnh nhất, với hàng chục nghìn node (tức máy tính có kết nối với mạng lưới), với khả năng chứng thực giao dịch trên một cơ sở cụ thể. Loại blockchain này bao gồm các đặc điểm cơ bản là: chúng hoàn toàn mở, ai cũng có thể tham gia vào mạng blockchain, mạng blockchain có thể nhận và gửi giao dịch cho bất cứ ai, và mọi người đều có thể kiểm soát các giao dịch một cách dễ dàng. Ngoài ra, cũng cần lưu ý rằng, mọi node đều có quyền tương đương nhau, giúp mạng duy trì tính phi tập trung và phân phối rộng.

Trong một mạng blockchain như vậy, một giao dịch sẽ được thông qua sau khi được cấp quyền bởi các node có liên quan theo một quy trình thống nhất. Trong thời gian kiểm soát, giao dịch sẽ được ghi lại vào chain, và thông thường, các blockchain công khai sẽ có những chương trình khuyến khích mọi người tham gia vào mạng, cũng như kiểm tra các giao dịch.

Blockchain riêng tư

Trái với các blockchain công khai, blockchain riêng tư thường chỉ gồm một số thành viên đủ điều kiện trở thành “trust participants”, còn quyền kiểm soát chung sẽ nằm trong tay chủ sở hữu. Ngoài ra, các điều luật của mạng blockchain riêng tư cũng có thể được thay đổi theo từng cấp độ cấp quyền, số thành viên, và không phải ai cũng được cấp quyền kiểm soát giao dịch.

Những mạng blockchain như vậy có thể vận hành độc lập hoặc được tích hợp vào các blockchain khác, và thường được sử dụng bởi các doanh nghiệp và tổ chức. Do đó, các thành phần trong mạng lưới cần phải có độ tin tưởng cao hơn vào nhau so với các blockchain công khai.

Cần lưu ý rằng, tuy rằng blockchain riêng tư cũng sử dụng các “Trusted Participants” để chứng thực giao dịch, nó lại rất khác với một loại Delegated Proof of Stake (dPOS), mà trong đó các “Trusted Participants” được gọi là “Block Producers” trong EOS, với EOS là một Blockchain công khai.

Permissioned Private Blockchains: Thiết yếu cho đa số doanh nghiệp

Permissioned Private Blockchains.

Theo Lucas Kolisko, hầu hết các doanh nghiệp sử dụng blockchain đều muốn thỏa mãn các tính năng sau đây:

Bảo mật: Bảo mật tập trung vào các mối lo về quyền riêng tư của các doanh nghiệp khi sử dụng blockchain. Cụ thể, bảo mật sẽ giúp đảm bảo rằng, chỉ có các đối tượng tham gia vào một giao dịch cụ thể là có thể biết và truy cập được giao dịch đó. Ngoài ra, nếu tập trung vào việc hạn chế quyền truy cập, hoặc kiểm soát đối tượng được cấp quyền tùy theo giao dịch, doanh nghiệp sẽ kiểm soát được việc sử dụng, cũng như hạn chế các vấn đề phát sinh từ việc truy cập tự do, giúp điều hướng các kênh blockchain hiệu quả hơn. Như vậy, tính bảo mật của blockchain riêng tư sẽ không chỉ giúp hạn chế việc bị lộ thông tin thông qua sử dụng cryptography, mà còn hạn chế lưu chuyển thông tin giữa các đối tượng trên chain – một hành động có thể tạo ra lợi thế thương mại cho các công ty đối thủ, cũng là tình huống mà các doanh nghiệp muốn tránh.

Thông lượng: Thông lượng là thước đo số lượng giao dịch được xử lý trong một khoảng thời gian. Theo cách nói của blockchain, đó là số lượng giao dịch trung bình được thêm vào blockchain (trong các khối) mỗi giây. Như đã thấy, ở đó hầu hết các blockchain công khai là đối tượng của sự chế giễu, đặc biệt là khi so sánh với tỷ lệ giao dịch VISA, hầu hết các doanh nghiệp luôn tìm kiếm mạng lưới cơ sở hạ tầng blockchain cấp doanh nghiệp có thể cạnh tranh với VISA, đồng thời mang lại cho họ một số lợi ích tuyệt vời của mạng blockchain.

Tính dứt khoát: Mỗi giây đều được tính cho chủ doanh nghiệp, đặc biệt là khi giao dịch với khách hàng và các bên thứ ba khác. Cuối cùng, đo lường thời gian người ta phải chờ đợi để được đảm bảo hợp lý, giao dịch được viết bằng blockchain là không thể đảo ngược (sẽ không được mồ côi). Đối với hầu hết các doanh nghiệp, độ trễ giữa thời điểm giao dịch được bắt đầu và khi chúng được đăng ký bất biến trên sổ cái là một vấn đề lớn. Điều này giải thích tại sao các blockchain công khai như mạng Bitcoin và Ethereum bị lỗi thời đối với hầu hết các doanh nghiệp.

Do đó, hầu hết các blockchain riêng tư đều sử dụng các thuật toán biểu quyết, trong đó, block được quyết định cuối cùng sau khi nhận được biểu quyết của đa số node. Điều này sẽ mang lại sự dứt khoát, xong lại giảm đi quy mô, do số lượng trao đổi cần thực hiện sẽ trở nên lớn hơn. Thông thường, hạn chế trên sẽ không gây ảnh hưởng lớn tới các blockchain riêng tư, do số lượng người tham gia ở đây là ít hơn, và họ thường được triển khai tại các WAN với độ trễ thập, đảm bảo thông lượng so với một môi trường internet thông thường.

Akachain: Permissioned Enterprise Blockchain cho Doanh nghiệp của bạn

The Permissioned Enterprise Blockchain for Your Business

Akachain là một mạng lưới end to end, multi-chain, được cấp quyền dựa trên HyperLedger Fabric, bao gồm một chain chính và nhiều chain riêng tư phụ, được kết nối bằng Privacy Preserved Bridge Protocol, giúp lưu trữ dữ liệu riêng tư trên dạng crypto, nhằm đảm bảo tính minh bạch và bảo mật, đồng thời tạo ra một môi trường công bằng và khách quan. Với Akachain, doanh nghiệp sẽ có một môi trường phù hợp để ứng dụng blockchain, giúp tăng hiệu suất hoạt động, giảm chi phí, tăng cường bảo mật dữ liệu, tối đa doanh thu, cũng như đạt được lợi thế trong kinh doanh. Tất cả đều đạt được thông qua việc loại bỏ những cản trở đến từ việc áp dụng đại trà.

akaChain

Tin liên quan: