Cái bắt tay giữa startup & doanh nghiệp lớn trong kỉ nguyên số

246

Thế giới đang thay đổi nhanh chóng, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với quá trình chuyển đổi số. Vòng đời trung bình của các công ty trong danh sách S&P 500 vẫn đang trên đà giảm từ 30 năm (Năm 1964) thành 24 năm (Năm 2016) và tiến tới là 12 năm (Năm 2027).  Trong thế giới này, không phải cá lớn nuốt cá bé mà là cá nhanh nuốt cá chậm. Một doanh nghiệp lớn trước đây sẽ tụt lùi và biến mất nếu không chịu thay đổi thông qua việc đổi mới sáng tạo, đặc biệt là việc “bắt tay” với startup, cộng hưởng giá trị từ cả hai bên.

“Nỗi sợ” tù sự tinh gọn và phát triển nhanh chóng này của các startup là một yếu tố khiến doanh nghiệp phải đổi mới. Có rất nhiều phương thức để đổi mới: nghiên cứu phát triển, đối tác, hợp tác giữa đơn vị kinh doanh (BU) và startup, hội đồng đổi mới sáng tạo, M&A, thành lập accelerator, quỹ đầu tư mạo hiểm, các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp… tương ứng với từng giai đoạn phù hợp. Theo INSEAD, hình thức quỹ đầu tư mạo hiểm công ty (Corporate ventures capital – CVC) được các công ty ứng dụng nhiều nhất trong các hình thức hợp tác với startup để tạo ra những đổi mới mang tính đột phá.

Hình thức CVC này thực tế đã được nhiều công ty ứng dụng. Theo Forbes, tính tới tháng 2/2017, 75% các công ty trong danh sách 100 công ty Fortune 100 đã đầu tư tích cực vào mảng CVC, 41% có quỹ CVC riêng. Thậm chí, những công ty như Coca Cola cũng đầu tư vào startup (Với thương vụ tiêu biểu là Spotify) và có chương trình Founder’s platform hỗ trợ startup.

Một số dạng đổi mới sáng tạo. Nguồn: BCG.

CVC là gì?

CVC là quỹ đầu tư từ một doanh nghiệp, đầu tư vào các công ty khởi nghiệp bên ngoài. CVC vốn có lịch sử khá lâu đời. Bắt đầu bằng khoản đầu tư của Dupont vào General Motors vào năm 1914, đem lại lợi nhuận vô cùng lớn cho Dupont, sau đó trải qua 4 làn sóng phát triển (Theo báo cáo BCG). Gần đây, CVC đã đạt kết quả ấn tượng: Tỉ trọng đầu tư CVC trong tổng vốn đầu tư mạo hiệm tăng từ 20% năm 2012 lên mức 26% năm 2017 và đạt mức tăng trưởng CAGR ấn tượng – 31%.

CVC tăng trưởng ấn tượng trong những năm gần đây.

Tại sao các công ty lớn hợp tác với startup?

Điểm khác biệt lớn nhất giữa CVC và các quỹ đầu tư mạo hiểm thông thường (VC) đó là những khoản đầu tư mang tính chiến lược, việc hợp tác giữa startup và công ty lớn phải dựa trên tinh thần đôi bên cùng tạo ra giá trị cho nhau và mang tính cộng hưởng. Sự hợp tác này không phải không có những thách thức nhưng những lợi ích từ nó chúng ta có thể nhận ra được.

Đối với công ty lớn thì việc tạo hình ảnh đổi mới sáng tạo thông qua đầu tư và hợp tác với công ty khởi nghiệp bên ngoài chỉ là một phần rất nhỏ. Thay vào đó, hợp tác xuất phát từ nhu cầu thực sự của công ty cần tận dụng nguồn lực đổi mới sáng tạo, đột phá từ bên ngoài. Tất nhiên, việc cân bằng được với mục tiêu về tài chính cũng là một mục tiêu của quỹ.

Kỷ nguyên công nghệ 4.0 tạo ra sự dịch chuyển nhanh chóng trong mô hình kinh doanh. Các công ty khởi nghiệp hoàn toàn có thể chiếm lĩnh thị trường và đe dọa vị thế độc tôn của các công ty lớn trong thời gian ngắn. Công ty lớn nhiều lúc tập trung vào “con bò sữa” của mình mà quên đi các mảng công nghệ ngoài rìa nhưng có thể sẽ đem lại giá trị lớn trong tương lai. Việc hợp tác với các startup, thay vì đối đầu sẽ giúp các công ty lớn hòa nhập được với xu hướng mới nhất của thị trường để liên tục cập nhật những sản phẩm mới, công nghệ mới.

Việc nghiên cứu và phát triển nội bộ vẫn đóng vai trò quan trọng nhưng đang dần nhường chỗ cho việc hợp tác, đầu tư với startup bên ngoài. 9 trên 10 công ty với ngân sách dành ra nhiều nhất cho R&D đã tiến hành hợp tác với startup. Hoạt động R&D ở một số trường hợp được “outsource” ra ngoài dưới dạng hợp tác với startup với lợi thế về hoạt động tinh gọn trong đổi mới sáng tạo.

Cuối cùng, tất nhiên không thể không kể đến tinh thần startup, phương pháp luận khởi nghiệp tinh gọn, cách hoạt động nhanh gọn – move fast and break things (Tạm dịch: hành động nhanh chóng và phá vỡ mọi thứ). Công ty lớn với nhiều ban bệ có xu hướng ngại rủi ro rất cần tinh thần, nhiệt huyết như vậy để đổi mới chính mình.

Ở chiều ngược lại, công ty lớn giúp startup rút ngắn thời gian chứng minh sản phẩm phù hợp với thị trường với hỗ trợ từ kinh nghiệm trong ngành và tất nhiên là nguồn vốn. Ngoài ra, đây là một kênh tốt nếu các startup muốn mở rộng quy mô ra toàn cầu, do kinh nghiệm toàn cầu hóa và văn phòng tại các nước.

Tất nhiên, ngoài yếu tố hỗ trợ thì chính công ty lớn cũng có thể trở thành khách hàng tiềm năng bởi họ có đầy đủ nguồn lực để nhân rộng quy mô. Những nền tảng và sản phẩm của công ty lớn cũng có thể được các startup tiếp cận và ứng dụng trong công ty mình.

Một số CVC

Trong danh sách nhiều các quỹ đầu tư mạo hiểm trực thuộc các tập đoàn lớn, có 3 cái tên lâu đời và điển hình, đó là Intel Capital, Google Ventures & Qualcomm Ventures. Điểm chung của cả 3 quỹ này đó là tính độc lập cao, phối hợp nhịp nhàng giữa các khoản đầu tư mang tính chiến lược và đầu tư thuần về con số tài chính.

Intel Capital có thể nói là quỹ đầu tư mạo hiểm trực thuộc tập đoàn “cổ” nhất khi thành lập vào năm đầu tư từ năm 1991. Intel Capital đầu tư vào các công ty khởi nghiệp sáng tạo trong các lĩnh vực: trí tuệ nhân tạo, thiết bị thông minh, điện toán đám mây, xe tự hành, kết nối 5G, thực tế ảo/thực tế tăng cường, IoT và các công nghệ đột phá khác. Từ năm 1991, Intel Capital đã đầu tư 12,3 tỷ đô la Mỹ vào hơn 1,530 công ty trên toàn thế giới, và hơn 660 công ty đầu tư đã là công ty đại chúng hoặc được mua lại. Đây cũng là những thông tin mà mỗi nhân viên của Intel Capital đầy tự hào để ở phần chữ kí trong email gửi ra bên ngoài.

Một trong những yếu tố quan trọng dẫn tới thành công của Intel Capital đó là việc đã xây dựng một chiếc cầu nối tốt giữa các BU (Đơn vị kinh doanh – Business Unit) và các startup trong danh mục đầu tư để gia tăng giá trị từ mảng đầu tư chiến lược; độc lập về quyết định và cân bằng tốt giữa mục tiêu chiến lược và mục tiêu tài chính. Intel đầu tư vào những startup làm những sản phẩm bổ sung (Ví dụ như video, âm thanh, phần cứng đồ họa, phần mềm vốn cần chip xử lý mạnh) với mục đích để tăng nhu cầu thị trường đối với sản phẩm chip Intel.

Đối với Google Ventures (GV) được thành lập từ năm 2009 như một nhánh đầu tư mạo hiểm của Alphabet. GV đã đầu tư được hơn 300 công ty trong các lĩnh vực: khoa học, y tế, trí tuệ nhân tạo, robotics, bảo mật, nông nghiệp. Điểm đặc biệt của các quỹ này là hoạt động độc lập. Nhà sáng lập Bill Maris khi thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm đã ra 2 điều kiện với đội ngũ lãnh đạo Alphabet: nhóm của ông có thể quyết định sẽ làm việc với ai, và có thể không chịu sự chi phối về các mối quan tâm chiến lược của Alphabet. Google Ventures nằm trong “vũ trụ đầu tư” của Alphabet (Công ty mẹ của Google) tham gia mạnh mẽ xây dựng cộng đồng khởi nghiệp. Alphabet có hẳn một danh mục các quỹ:

  • GV, trước gọi là Google Ventures – Quỹ đầu tư với lượng đầu tư nhiều nhất;
  • CapitalG (Trước là Google Capital) chủ yếu đầu tư vào giai đoạn sau;
  • Gradient Ventures tập trung vào các startup về trí tuệ nhân tạo;
  • Các đơn vị khác trong Google cũng trực tiếp có những khoản đầu tư vào startup (Các phòng thí nghiệm, các phòng ban) hay đầu tư vào chương trình acceletor Launchpad.

Ngoài ra, một CVC lớn khác là Qualcomm Ventures được thành lập năm 2000, đầu tư vào các startup giai đoạn đầu trong lĩnh vực: Di động và không dây, Tự động hóa, IoT, Trí tuệ nhân tạo, Y tế số, Trung tâm dữ liệu. Qualcomm Ventures hoạt động với triết lý dựa trên việc cân bằng giữa những khoản đầu tư mang tính chất chiến lược cho Qualcomm và đầu tư đem lại hiệu quả tài chính cao. Mới đây, Qualcomm ventures đã tạo ra quỹ chuyên biệt đầu tư vào AI với 100 triệu USD đầu tư vào startup trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.

Không chỉ có Intel, Google hay Qualcomm đang làm tốt mảng đầu tư vào khởi nghiệp mà các công ty khác cũng đã và đang thực hiện việc này. Tại Trung Quốc, bộ ba quyền lực Baidu – Alibaba – Tencent tích cực đầu tư và chiếm trọng số lớn trong tổng đầu tư vào các công ty khởi nghiệp. Tại Nhật Bản, Softbank với Vision Fund với quy mô quỹ khổng lồ: 100 tỷ USD. Ngay cả những startup như Grab, Slack… cũng đã lập ra mảng đầu tư vào các công ty khởi nghiệp để xây dựng hệ sinh thái xung quanh lĩnh vực cốt lõi. Các công ty cũng có thể đầu tư gián tiếp vào startup thông qua một quỹ riêng (Ví dụ như SAP đầu tư vào Sapphire Ventures). Ngoài ra, còn rất nhiều các CVC khác tới từ Salesforce, Microsoft, hay Alexa fund của Amazon… Tựu chung lại từng trường hợp lại có những bối cảnh riêng tác động tầm nhìn Quỹ. Trong khuôn khổ bài viết sẽ không tập trung chi tiết những công ty này.

Hoàng Nam Lê (FPT Ventures)

Tin liên quan:
  • 56
    Shares