Công cụ phát hiện nói dối có thực sự hiệu quả – Phần 2

53

Sự phức tạp của công nghệ sử dụng không đồng nghĩa với hiệu quả của công cụ phát hiện nói dối. Tuy nhiên một thế hệ mới sử dụng AI để kết hợp các dấu hiệu thành một phép đo duy nhất đang bắt đầu xuất hiện. Trong đó, công nghệ Machine Learning, với khả năng tìm ra các xu thế bất thường trong dữ liệu, đã đẩy nhanh quá trình nghiên cứu về phát hiện nói dối.

Sau sự kiện khủng bố 9/11, Chính phủ Mỹ vốn vẫn luôn tích cực tài trợ cho khoa học phát hiện nói dối đã bắt đầu tư vào nhiều phương thức phát hiện nói dối tập trung vào não bộ khác, thông qua Darpa – Cơ quan chỉ đạo các dự án Nghiên cứu Quốc phòng tiên tiến. Tới năm 2006, đã có tới 2 công ty là Cephos và No Lie MRI, cung cấp dịch vụ phát hiện nói dối sử dụng phương pháp chụp ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI). Cụ thể, công cụ này sử dụng các nam châm mạnh để theo dõi đường đi của máu tới các phần của não bộ cần thiết cho giao tiếp xã hội, gợi nhớ, và kiểm soát các hành vi bốc đồng.

Nhưng sự phức tạp của công nghệ sử dụng không đồng nghĩa với hiệu quả của công cụ phát hiện nói dối. Về vấn đề này, Tiến sỹ Giorgio Ganis, nhà nghiên cứu về phát hiện nói dối sử dụng EEG và fMRI tại Đại học Plymouth đã nói: “Ta có thể dễ dàng vượt qua những bài kiểm tra này, sử dụng những phương thức vô cùng khó phát hiện”. Và đánh giá của một nhóm nghiên cứu thuộc Quỹ MacArthur về các bài phát hiện nói dối sử dụng fMRI đã chứng minh cho nhận đinh này. Cụ thể, một thành viên của nhóm kiêm nhà tâm lý học tại Stanford, ông Anthony Wagner, đã phủ nhận tính đáng tin của phát hiện qua fMRI trên tòa án rằng: “Sau khi phân tích dữ liệu, chúng tôi có thể kết luận rằng, không thể khẳng định rằng fMRI có hiệu quả hay không.”

Nhưng đây không phải là kết thúc của các công cụ phát hiện nói dối – Một thế hệ mới sử dụng AI để kết hợp các dấu hiệu thành một phép đo duy nhất đang bắt đầu xuất hiện. Trong đó, công nghệ Machine Learning, với khả năng tìm ra các xu thế bất thường trong dữ liệu, đã đẩy nhanh quá trình nghiên cứu về phát hiện nói dối. Cụ thể, một nhóm nhà khoa học từ Đại học Maryland mới đây đã khẳng định rằng, họ đã phát triển thành công một phần mềm phát hiện nói dối qua video quay phiên tòa, đạt độ chính xác lên tới 88%.

Các thuật toán sử dụng trong những công cụ này sẽ còn tiếp tục phát triển qua thời gian, thậm chí được cho là sẽ sớm tìm ra những yếu tố mới mà những người lập trình ra chúng cũng chưa hề phát hiện. Hiện nay, những công cụ này đang được thử nghiệm trong phỏng vấn tuyển dụng, thủ tục qua biên, cũng như thẩm vấn cảnh sát, nhưng sự phổ biến này lại dấy lên lo ngại từ các tổ chức dân quyền, cũng như những nhà khoa học về những ảnh hưởng xã hội mà nó có thể đem lại.

Minh chứng cho sự lo ngại này là lịch sử sử dụng của công cụ phát hiện nói dối phổ biến nhất từ trước tới nay – Máy Polygraph. Với niên đại lên tới cả một thập kỷ, chiếc máy này vẫn duy trì y nguyên độ phổ biến của nó với công chúng, cũng như trên thị trường phát hiện nói dối, thực hiện tới hàng triệu bài kiểm tra mỗi năm. Tuy nhiên, kể từ khi xuất hiện, công cụ này đã luôn bị hoài nghi về tính chính xác, cũng như mục đích sử dụng của chúng.

Thậm chí chính cha đẻ của Polygraph, ông John Larson còn quay sang căm ghét nó. Vào năm 1921, khi còn 29 tuổi, Larson mới bắt đầu với công việc cảnh sát tại thị trấn Berkeley California. Khi không phải đi tuần tra, ông đã sử dụng các kiến thức về sinh lý học cũng như tâm lý học tội phạm của mình, thử nghiệm và phát triển các ứng dụng khoa học tại một phòng thí nghiệm thuộc Đại học California, với mục tiêu hỗ trợ công tác phát hiện và hạn chế phạm tội.

John Larson (bên phải), người phát minh ra công cụ phát hiện nói dối Polygraph | Ảnh: Pictorial Parade/Getty Images.

Tới mùa xuân 1921, Larson đã tạo ra một công cụ có khả năng đo huyết áp và nhịp thở liên tục, sau đó ghi lại kết quả trên một trụ giấy. Sau đó, ông thiết kế một bài kiểm tra dạng phỏng vấn, so sánh phản ứng sinh lý của đối tượng kiểm tra với các câu trả lời có hay không khi được hỏi các câu hỏi liên quan tới hành vi phạm tội, và các phản hồi khi được hỏi những câu hỏi đơn giản về tên, tuổi của đối tượng. Và để chứng minh khái niệm này, Larson đã thử nghiệm thiết bị và bài kiểm tra tại một vụ trộm ở một ký túc xá nữ.

Thiết bị của Larson sau đó đã tiếp tục được cải thiện dưới sự hỗ trợ của một doanh nhân mang tên Leonarde Keeler – Người mà sau đó đã mang ứng dụng Polygraph ra ngoài lĩnh vực thi hành pháp luật. Cụ thể, sau cuộc khủng hoảng phố Wall 1929, Keeler đã giới thiệu một phiên bản Polygraph được giấu trong hộp gỗ, giúp các công ty kiểm tra các nhân viên bị tình nghi ăn trộm.

Chính phủ Mỹ cũng nhanh chóng gia nhập hàng ngũ sử dụng Polygraphy không lâu sau đó. Trong phong trào chống Cộng sản của những năm 1950, chính phỷ này đã sử dụng Polygraph lên hàng nghìn cán bộ, nhằm phát hiện và loại bỏ những người có tư tưởng Cộng sản. Vào năm 1951, quân đội Mỹ đã thành lập trường Polygraphy đầu tiên, hiện vẫn đang tích cực huấn luyện các cán bộ kiểm tra thuộc cơ quan tình báo của Căn cứ Jackson tại Nam Carolina.

Các công ty cũng nhanh chóng tiếp cận công nghệ này. Trong thập kỷ vừa qua, có tới ¼ số doanh nghiệp mỹ sử dụng Polygraph để kiểm tra lịch sử sử dụng thuốc và lịch sử phạm tội của nhân viên – McDonald cũng hề ngoại lệ. Cho tới những năm 1980, đã có tới hơn 10.000 nhà kiểm tra Polygraph được huấn luyện chuyên nghiệp, phục vụ cho việc thực hiện hơn 2 triệu bài kiểm tra hàng năm.

Phổ biến là như vậy, song Polygraph lại không hề có hiệu quả. Vào năm 2003, Học viện Khoa học Quốc gia Mỹ đã cho xuất bản một nghiên cứu chứng minh rằng, độ chính xác của Polygraph, thông qua 57 thử nghiệm, là “không hề đạt yêu cầu”. Ngoài ra, đã có vô số tội phạm thành công vượt qua bài kiểm tra này một cách thành thạo. Cụ thể, Aldrich Ames, một điệp viên hai mang cho KGB, đã vượt qua tới 2 bài kiểm tra Polygraph khi làm cho CIA vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Thậm chí, chỉ cần một chút luyện tập, máy Polygraph sẽ nhanh chóng mất tác dụng: Floyd “Buzz” Fay, sau khi bị buộc tội giết người sai do Polygraph, đã nhanh chóng trở thành chuyên gia về công cụ này, và trong 2 năm rưỡi ngồi tù đã thành công huấn luyện các bạn tù vượt qua nó. Cụ thể, chỉ sau 15 phút hướng dẫn, 23 trên tổng số 27 tù nhân đã vượt qua được bài kiểm tra này. Vậy họ đã làm thế nào? Một phương thức tránh Polygraph phổ biến là làm quá phản ứng trước các câu hỏi, bằng cách nghĩ về những trải nghiệm đáng sợ, dẫm vào đinh được giấu trong giày, hay chỉ đơn giản là căng mông.

Nhưng đáng nói hơn cả, là Polygraph chưa bao giờ là một công cụ phát hiện nói dối có hiệu quả. Các nhà kiểm tra sẽ không giờ biết được nguồn gốc chính xác của những thay đổi về huyết áp: Là nỗi sợ bị bắt gặp nói dối, hay nỗi lo bị buộc tội sai? Hơn nữa, trên cùng một kết quả kiểm tra, các nhà kiểm tra khác nhau lại có thể cho ra các đánh giá trái ngược nhau, và kết quả cũng khác biệt dựa trên địa điểm, chủng tộc, và giới tính.

Sau khi Larson qua đời vào năm 1965, Ủy ban Hoạt động Chính phủ Mỹ đã đưa ra một phán quyết cuối cùng về công cụ Polygraph, cụ thể là: “Mọi người đã bị lừa rằng một thiết bị trong tay một nhân viên điều tra có thể phân biệt được thật giả.” Cũng tại thời điểm này, các nhóm hoạt động dân quyền đã lên án mạnh mẽ về Polygraph, cho rằng công cụ này đang vi phạm dân quyền chống lại sự tự buộc tội. Và trên thực tế, tại các phiên tòa của Mỹ, đa số các kết quả Polygraph đều không được coi là bằng chứng buộc tội hợp lệ. Tới năm 1988, Quốc hội Mỹ đã chính thức cấm sử dụng Polygraph trong tuyển dụng, trước những quan ngại rằng Polygraph có thể bị lạm dụng và sử dụng sai mục đích. Và những công cụ phát hiện nói dối khác của thế kỷ 20 cũng gặp số phận tương tự: Dự án “wiggle chair” của Bộ Quốc phòng – Một công cụ bí mật đo chuyển động và nhiệt độ cơ thể trong quá trình thẩm vấn, kết hợp với một hệ đo nhịp thở đặc biệt sử dụng một tia laser qua một lỗ trên tường đã bị ngừng nghiên cứu.

Nhưng tất cả điều này không hề làm Polygraph bớt phổ biến, bởi lẽ công chúng vẫn tin rằng thiết bị này có hiệu quả. “Những người phát triển ra Polygraphy hẳn đã biết rằng, sức mạnh thật sự của công cụ nằm ở cách nó làm mọi người tin vào hiệu quả của nó,” Tiến sỹ Andy Balmer, một nhà xã hội học tại Đại học Manchester, tác giả của cuốn sách Lie Detection and the Law đã chia sẻ.

Một số người lại nhận tội chỉ vì lo rằng mình sẽ bị máy phát hiện. Vào năm 1975, một tội phạm trong cuộc thẩm vấn tại Cincinnati thậm chí đã xé 1,8 m giấy trụ và ăn chúng hòng xóa bỏ kết quả của máy Polygraph (và cảnh sát thậm chí còn không cần phải sử dụng một máy Polygraph thật: các cảnh sát tại Detroit đã ép tội phạm thừa nhận với một máy photo liên tục xuất ra những tờ giấy in sẵn các câu như “Anh ta đang nói dối!”) Và đây cũng chính là lý do tại sao các cơ quan hành pháp Mỹ lại ưa thích máy Polygraphy: Chúng làm tội phạm thừa nhận nhanh hơn, và họ có thể tiết kiệm rất nhiều chi phí tòa án và thẩm vấn.

Tuy nhiên, một số người lại thừa hận các hành vi phạm tội mà họ không hề làm sau khi bị máy cáo buộc sai. Điều này đã khiến Polygraph không khác gì một thiết bị tra tấn tâm lý, ép những người vô tội phải nhận tội, khiến họ phải nhận án phạt, xử phạt, rồi ngồi tù.

Và người hiểu rõ nhất về những nguy hiểm này của Polygraph là không ai khác ngoài Larson. Ngay trước khi qua đời vào năm 1965, ông đã viết: “Ngoài kỳ vọng của tôi, đã xuất hiện những yếu tố không thể kiểm soát, biến những cuộc thẩm vấn khoa học thành những hình thức biến thái khó có thể tin nổi.”

FPT TechInsight
Theo The Guardian

Hành trình tạo ra máy phát hiện nói dối hoàn hảo và những nguy hiểm đi kèm – Phần 1

“Sự thật không phải hàng hóa. Chẳng ai muốn nó cả.” – Phần 3

Tin liên quan: