Cuộc cách mạng “Bot” đã bắt đầu

679

“Bot là ứng dụng mới”- đây là nhận định về bot của CEO Microsoft, ông Satya Nadella ám chỉ sự bùng nổ và tiềm năng to lớn hệ sinh thái bot, tương tự như những gì đã diễn ra trong hệ sinh thái của các ứng dụng (app) mới.

Một gã khổng lồ khác là Facebook cũng đã tiến mạnh mẽ hơn cả trong lĩnh vực này: chỉ trong 1 năm, Facebook Messenger đã hỗ trợ được 100,000 developers , tạo ra 100,000 bot (con số này năm 2016 là 34,000 developers với 30,000 bot). Rõ ràng, không chỉ CEO Microsoft đưa ra nhận định này mà lãnh đạo còn lại “Big 4” trong làng công nghệ như Google, Facebook, Apple, Microsoft” cũng cùng chung quan điểm khi đã có những bước tiến vững chắc xây dựng trí tuệ nhân tạo và hệ sinh thái của riêng mình trong kỷ nguyên bot thông qua việc xây dựng một nền tảng, hoặc các công cụ tạo bot…  (Chi tiết hơn trong phần tiếp theo: “Hệ sinh thái bot trên thế giới- trận địa mới cho các anh tài”)

Gartner Hype Cycle – Các xu hướng công nghệ mới (Nguồn: Gartner,2016)

“Conversational User Interfaces”- hội thoại giao diện người dùng (bot,chatbot), “Virtual Personal Assistants,” – trợ lý ảo cá nhân đang ở giai đoạn “innovation trigger”, đã có những đước phát triển mạnh và rất tiềm năng ban đầu khi công ty lớn đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh lực này. Trong khi đó, “Lĩnh vực Học máy (Machine Learning) đang đạt ngưỡng ở “Peak of inflated expectation”, lĩnh vực “hỏi đáp theo ngôn ngữ tự nhiên” (Natural-Language Question Answering) bắt đầu đi xuống, ở giai đoạn “Trough of Disillusionment” nhưng sẽ sớm tới giai đoạn “slope of enlightment”.

 Bảng 1: Gartner Hype Cycle:

 Theo Hype Cycle của Gartner- biểu đồ diễn tả các giai đoạn vòng đời sản phẩm, từ lúc xuất hiện cho tới khi được ứng dụng đại trà.

  • “Innovation Trigger”- khi công nghệ đó có những bước đột phá ban đầu
  • “Peak of inflated expectation”- khi công nghệ được nhiều người biết đến và đầy lạc quan vê công nghệ, có sự góp sức lớn của truyền thông.
  • “Trough of disillusionment”- khi người dùng bắt đầu nhận ra và cảm thấy thất vọng vì một số tính năng chưa đáp ứng được như kì vọng, nhà sản xuất, developers giảm;
  • “Slope of Enlightenment”: sản phẩm đã có những kết quả thật sự, nhiều công ty tham gia phát triển công nghệ này hơn
  • “Plateau of Productivity”: công nghệ đã phát triển và đi vào phát triển đại trà.

Vậy điều gì đã tạo nên làn sóng này? Có 3 xu hướng chính sau đây:

Xu hướng đầu tiên thúc đẩy sự phát triển của chatbot chính là sự trỗi dậy của kỉ nguyên trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence- AI). Các ứng dụng của AI bao gồm trợ lý ảo (trong đó có một phần chatbot), hệ thống khuyến nghị, phân tích giọng nói…

Một số lĩnh vực của AI (theo PwC)

  • Large scale Machine Learning (Học máy trên quy mô lớn)
  • Deep learning (Học sâu)
  • Natural Language Processing (Xử lý ngôn ngữ tự nhiên)
  • Collaborative System : mô hình, thuật toán giúp hệ thống tự động phối hợp với các hệ thống khác & con người
  • Computer Vision (Thị giác máy tính, phân tích hình ảnh)
  • Soft Robotics (tự động hóa quy trình của robot)

Mức quan tâm và đầu tư cho AI ngày một gia tăng và được chứng minh bởi các con sô: Theo Mckinsey, các công ty đã đầu tư từ 26 đến 39 tỉ đô là năm 2016 cho AI. Một báo cáo khác của Accenture, CAGR- tỷ lệ tăng trưởng lũy kế hàng năm của dữ liệu toàn cầu ở mức 50% từ năm 2010. Lí do việc AI trở thành một xu hướng trong một vài năm qua do số lượng dữ liệu tăng mạnh, năng lực xử lý, lưu trữ dữ liệu tăng mạnh cũng như chi phí giảm cho năng lực xử lý.

Các công nghệ, giải pháp và ứng dụng trong AI (Nguồn: Accenture)

Cũng vì thế mà các năng lực của AI như cảm nhận (với các công nghệ như thị giác máy tính- computer vision, xử lý âm thanh- audio processing…), thấu hiểu (với các công nghệ như xử lý ngôn ngữ tự nhiên- natural language processing,…), hay thực thi (học máy- machine learning..) đều có những bước tiến rõ rệt. Ví dụ, khi sử dụng học sâu, việc nhận diện hình ảnh có thể giảm sai sót từ 25% xuống 2%, vượt xa năng lực con người.

Xu hướng thứ hai đó là người dùng đang khá “mệt mỏi” vì ngày càng có nhiều ứng dụng trong điện thoại thông minh (smartphone). Trên thực tế, số lượng smartphone đang tăng trưởng tốt với nhiều mẫu mã, số lượng tải về các ứng dụng cũng đang tăng nhưng lượt tải ứng dụng đang tiến tới độ bão hòa.

Có vẻ như việc dễ dàng kinh doanh trên kho ứng dung đã là quá khứ và việc xây một ứng dụng và quảng bá nó đang ngày càng tốn nhiều chi phí. Có một quan sát rất hay về thực trạng này của báo Economist: “20 nhà phát triển thành công nhất chiếm gần một nửa tổng doanh thu trên cửa hàng ứng dụng của Apple”. Một phần tư số ứng dụng tải về đều đã bị xóa ngay sau lần sử dụng đầu tiên. Người dùng đang có quá nhiều lựa chọn trên smartphone và thiếu đi một ứng dụng “tổng quản” nào đó làm được chức năng như các ứng dụng khác, sẽ được nhắc tới trong xu hướng thứ ba.

Xu hướng thứ ba, trên thực tế, người dùng tuy “mệt mỏi” nhưng vẫn người dùng ngày càng có khuynh hướng quy tụ nhiều hơn vào việc dùng ứng dụng vụ nhắn tin, hội thoại (theo Deloitte, số lượt người dùng hàng tháng Big 4 trong nền tảng nhắn tin lên tới 3 tỉ- bao gồm Facebook, Whatsapp, Line, Wechat). Có hơn 2.5 tỉ người có ít nhất 1 ứng nhắn tin,hội thoại được cài trong máy. Con số này sẽ nhanh chóng tăng lên thành 3.6 tỉ người- 1 nửa nhân loại chúng ta trong những năm tới!

Số người dùng sử dụng các ứng dụng nhắn tin theo tháng (Nguồn: Statista)

Thậm chí độ tuổi teen còn có xu hướng sử dụng ứng dụng nhắn tin nhiều hơn mạng xã hội. Có một con số đáng lưu ý là khoảng một năm trước, 4 nền tảng ứng dụng nhắn tin lớn nhất đã vượt nền tảng mạng xã hội về mức độ sử dụng (theo BI Intelligence). Điều này cũng lí giải cho việc tại sao Facebook chia riêng rẽ hai ứng dụng mạng xã hội và nhắn tin và chuyển hướng sang nền tảng mobile.

Ứng dụng mạng xã hội và ứng dụng nhắn tin (Nguồn: BI Intelligence)

Vậy tại sao ứng dụng nhắn tin không thể thành 1 ứng dụng “tổng quản” như trên đã đề cập? Thực tế cho thấy chức năng chính của điện thoại là nghe, gọi, nhắn tin, vậy tại sao không đưa nhiều chức năng hơn vào một ứng dụng thay vì chuyển từ ứng dụng này sang ứng dụng kia? Ứng dụng nhắn tin chiếm tỉ trọng sử dụng lớn trong quỹ thời gian một ngày của người dùng và đang trở thành một ứng dụng “tổng quản”, một “hệ điều hành” của các ứng dụng, có thể thay thế chức năng của các ứng dụng khác khi kết hợp chatbot trên nền tảng này.

Một ví dụ rất cụ thể tại Châu Á đó là Wechat, nền tảng nhắn tin này của Tencent không chỉ làm tốt việc nhắn tin, hội thoại mà còn mở rộng ra rất nhiều các lĩnh vực khác như đặt lịch hẹn với bác sĩ, đặt món ăn trên mạng, hay thậm chí lì xì trong dịp Tết. Không chỉ Wechat mà các nền tảng nhắn tin khác trên thế giới cũng đều hướng tới mô hình “tổng quản” này.

Rõ ràng, cái người dùng mong muốn là sự tiện lợi trong trải nghiệm, tiết kiệm thời gian, chi phí nhất có thể.tiềm năng to lớn của “bot” là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên việc có đạt đến mức phát triển như hệ sinh thái ứng dụng hay không vẫn còn là một câu hỏi mở. Trong phần sau, các ứng dụng của bot, hệ sinh thái của bot trên thế giới và tại Việt Nam sẽ được tìm hiểu kĩ hơn.

Bảng 2. Khái niệm bot & chatbot & lịch sử phát triển

Gartner định nghĩa bản thân thuật ngữ “bot” là tương đối mới, nhưng công nghệ tạo nên bot thì đã phát triển được một thời gian. Bot là một đoạn mã code nhỏ hoặc một ứng dụng thực hiện một tác vụ chuyên biệt. Bots sẽ sử dụng AI để quản lý dữ liệu phi cấu trúc và các tác vụ phức tạp.

Chatbots, một loại bot cụ thể phù hợp với sự tương tác của con người, sử dụng AI để xử lý ngôn ngữ. Chatbot có thể hiểu đơn giản là một chương trình máy tính mà người dùng có thể giao tiếp với máy thông qua các ứng dụng nhắn tin. Một chatbot có thể nói và hiểu tiếng nói và sẽ phân tích những gì con người nói và cố gắng hiểu một yêu cầu đưa ra. Chatbots sau đó giao tiếp với các máy khác và truyền đạt câu hỏi sau đó trả lời con người.

Bot, hay chatbot giúp cho con người tiết kiệm thời gian, chi phí thông qua ứng dụng trong việc chăm sóc khách hàng (Tự động hóa quy trình…), hay nâng cao năng suất lao động (các bot giúp đặt lịch…) hay thâm chí chăm sóc đời sống con người (các bot chăm sóc sức khỏe …).

Mặc dù chatbot là chủ đề “nóng” trong thời gian gần đây, nhưng thực ra chatbot đã có mặt từ cách đây 50 năm. Năm 1950, từ ý tưởng của Turing là đưa ra một thiết bị thông minh sẽ thay thế con người thực hiện các cuộc hội thoại. Ý tưởng này giúp hình thành nền tảng cho cuộc cách mạng Chatbot.  Sau đó, Eliza là chương trình chatbot đầu tiên được phát triển năm 1966. Chương trình được tạo ra để “đóng vai” nhà trị liệu trả lời các câu hỏi đơn đơn giản với các cấu trúc câu xác định. Chương trình được phát triển bởi ông Joseph Weizenbaum,Viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ.

Hoàng Nam Lê

Tin liên quan: