Chiều ngày 17/9/2018 tại Tầng 13 tòa nhà FPT, Hà Nội, Vitalik Buterin, cha đẻ nền tảng Ethereum đã có bài chia sẻ chuyên sâu tới 200 người tham dự tại sự kiện và khán giả xem trực tuyến trên trang tin công nghệ FPT Techinsight. Xuyên suốt buổi giao lưu, bước chuyển mình của Ethereum (sang Ethereum 2.0) được Vitalik chia sẻ chi tiết tới cộng đồng.

Ethereum 2.0 bao gồm các dự án về: Proof of Stake (Beacon chain & Casper FFG), Sharding & eWASM.Về bản chất, Ethereum 2.0 sẽ thúc đẩy mô hình cốt lõi của các giao thức thông qua “sharding” (phân mảnh), một tiến trình lưu trữ dữ liệu, giống như việc tạo ra các mảnh như tạo blockchain với hàng trăm vũ trụ khác nhau và mỗi vũ trụ lại có một không gian riêng. Tuy nhiên, các vũ trụ này không chỉ là các khối block riêng biệt, chúng là các hệ thống kết nối với nhau, đồng thời cũng chia sẻ sự đồng thuận. Vitalik cho biết những nghiên cứu về giải pháp để cải thiện khả năng mở rộng hệ thống hiện nay vẫn còn nằm nhiều ở mặt lý thuyết. Sự cải tiến từ Ethereum 1.0 đến Ethereum 2.0 cần thêm thời gian để các công nghệ thực sự chạy được trên hệ thống.

Vitalik mở đầu bài phát biểu bằng slide giới thiệu về Proof of Stake (Hay còn gọi là Casper). Ông cho biết Ethereum đang nghiên cứu chuyển hướng từ Proof of Work (PoW) sang Proof of Stake (PoS), kết hợp Sharding. Trong giao thức này, chuỗi PoS lưu trữ và quản lý các validator (người kiểm định) đang hoạt động. Cơ chế duy nhất để trở thành validator ban đầu đó là gửi giao dịch trên chuỗi chính PoW chứa 32 ETH.

Cơ chế của PoS

Trong một hệ thống PoS, mỗi người muốn được được trở thành validator – “người kiểm định” sẽ phải nộp một số lượng tiền nhất định vào hệ thống, được gọi là tiền cọc (stake). Hệ thống sẽ chọn ra từ trong “nhóm người kiểm định” một người để xử lý giao dịch và một nhóm để kiểm định giao dịch đó, dựa trên số tiền những người đó đặt cọc tính trên tổng khối lượng tiền cọc của toàn hệ thống, kết hợp với một số các yếu tố khác như khoảng thời gian họ sở hữu số tiền đó, cách họ sở hữu được số tiền đó, tổng giá trị họ đang sở hữu, cơ cấu tài chính của hệ thống,… Và “người kiểm định” được chọn sẽ được nhận khoản phí tương đương với mức điểm họ được hệ thống đánh giá.

Vitalik chia sẻ về những nhân tố xây dựng nên nền tảng Ethereum. Đầu tiên, đó là “Ethereum Protocol Specification”– đặc điểm giao thức Ethereum được xây dựng bởi một nhóm tập trung cộng đồng các nhà nghiên cứu. Trên đó là “Client implementation” (Implement protocol) được phát triên bởi rất nhiều nhóm phát triển phần mềm (mã nguồn mở) (Phần mềm chạy Ethereum được gọi là Client hoặc node). Ngoài client implementation, có hẳn một “hệ sinh thái” các dự án phần mềm mã nguồn mở được xây trên Các ngôn ngữ smart contract (hợp đồng thông minh) như Solidity, Vyper), Thư viện RPC (web3js, ethers, Nethereum), các công cụ phát triển (truffle, ganache, solc, solium, embark). Một khi được triển khai, Ethereum 2.0 sẽ hỗ trợ các giao dịch trên chuỗi ở quy mô lớn, trong khi vẫn cân bằng được việc phân tán và bảo mật.

Sharding là gì?

Sharding là quá trình chia dữ liệu trên chính Blockchain thành các phần nhỏ gọi là các shard, vì vậy mỗi nodes chỉ phụ trách một phần nhỏ của chuỗi, khi đó, các sharding khác nhau sẽ chạy song song. Điều này sẽ cho phép mạng lưới Ethereum xử lí hàng nghìn giao dịch trên giây.Theo nghiên cứu của đội ngũ kỹ thuật Ethereum, sự chuyển dịch này sẽ mất khoảng hai năm. Điều này sẽ giúp tăng tốc độ giao dịch trên hệ thống lên hàng ngàn TpS (Transactions per Second), đồng thời tốc độ không bị ảnh hưởng khi số lượng node tăng lên. Các node sẽ được chọn theo thuật toán ngẫu nhiên, dựa vào beacon chain (chain phụ). Hiện tại có cố định một lượng shards (1024).

Điểm được chú ý nhất của giải pháp PoS chính là yếu tố thân thiện với môi trường vì đã loại bỏ được nhu cầu tính toán khổng lồ như của PoW. Khi ở PoW, sẽ rất tốn thời gian và năng lượng cho việc tất cả node cùng tham gia tính toán giải các hàm hash thì PoS đưa ra một phương pháp đồng thuận mới trong việc đóng gói block vào chain. Trong các node tham gia, một node sẽ được lựa chọn ngẫu nhiên để trở thành người kiểm định và đóng gói block (Node tham gia được gọi là các validator). Các vấn đề về an ninh tài chính cũng được tăng cường. Các bên khai thác sẽ bị hạn chế vì lý do kinh tế (họ không muốn khoản tiền mình đặt cọc bị tịch thu vì vi phạm luật hoặc mất giá trị vì các vấn đề an ninh).

PoW là gì?

Hiểu đơn giản, PoW là một giải pháp được đưa ra nhằm phòng tránh các cuộc tấn công từ chối dịch vụ (denial of service – dos) hoặc các hành vi lạm dụng, phá hoại hệ thống máy tính trực tuyến khác. Trong một mô hình PoW, hệ thống sẽ đưa ra một bài kiểm tra tương đối khó (nhưng khả thi) với các kết quả có thể được xác nhận một cách dễ dàng – một mô hình tương tự với hệ thống CAPTCHA. Tuy nhiên, CAPTCHA dành cho con người, còn các bài kiểm tra của PoW sẽ dành cho máy tính.

Vitalik gọi mô hình kết hợp giữa Casper và Sharding này là Shasper (phiên bản 2.1). Mô hình proof of stake(Casper) kết hợp với Sharding có thể tăng tốc độ xuất hiện block từ 2s đến 8s, nhanh hơn nhiều so với con số 14-15s của mô hình proof of work trước đây. Ngoài ra, Vitalik cũng chia sẻ rằng, sự kết hợp của Sharding và Plasma có thể làm tăng tốc độ xử lí Ethereum lên 1 triệu giao dịch mỗi giây.

Đội ngũ Ethereum hiện định nghĩa lại vai trò của một node tính toán ở trong mạng lưới để có thể đảm nhiệm được nhiều chức năng cùng một lúc như tạo block, kiểm tra block, kiểm tra các giao dịch. Bên cạnh đó, đội ngũ Ethereum cũng tiếp tục thực hiện nhiều nghiên cứu, thử nghiệm để cải thiện khả năng mở rộng, tăng tốc độ xử lý giao dịch. Một số nghiên cứu được bắt đầu từ 6 đến 8 tháng trước và vẫn chưa được hoàn thiện.

Ngoài bài trao đổi chuyên sâu, ông Vitalik Butarin còn trao đổi về những bước tiến và ứng dụng của công nghệ blockchain, cũng như cơ chế phối hợp giữa nền tảng Ethereum trong phiên tọa đàm với sự góp mặt của 3 diễn giả uy tín: ông Trần Hữu Đức- giám đốc FPT Ventures, ông Thanh Nguyen- giám đốc bảo mật VNG, ông Loi Luu, sáng lập Kyber Network- Giao thức cung cấp thanh khoản trên Blockchain.

Lê Hoàng

Tin liên quan:
  • 1
    Share