Giải pháp ITS cho Giao thông đô thị của FPT IS

835
Các hệ thống ITS đang thu hút sự quan tâm, nghiên cứu và đầu tư rất lớn nhằm phục vụ cho sự phát triển của các hệ thống giao thông trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Chúng ta đang từng bước xây dựng “Chính phủ thông minh”, “Thành phố thông minh” và hệ thống “Giao thông thông minh” sẽ là một phần tất yếu trong sự phát triển đó.
Một thực tế là các dịch vụ ITS hiện nay xuất hiện chủ yếu trên các tuyến đường ô tô cao tốc tại Việt Nam, đồng thời các quy trình quy phạm được ban hành liên quan đến hệ thống ITS cũng chủ yếu phục vụ cho việc triển khai hệ thống ITS trên đường ô tô cao tốc. Trong khi đó, dường như chưa có sự quan tâm và nghiên cứu về việc triển khai hệ thống ITS cho các đô thị.
Tại Việt Nam, FIS FTS đã tiên phong trong việc nghiên cứu, ứng dụng ITS cho các đô thị, điển hình là “Hệ thống xe buýt thông minh” triển khai tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2014.  với  Cchức năng của nó là giám sát và điều hành xe buýt trực tuyến (giám sát vị trí phương tiện, giám sát thời gian làm việc của lái xe, giám sát chuyến thực hiện tuân thủ lộ trình và giờ kế hoạch, tự động cảnh báo khi phương tiện vi phạm: vi phạm vận tốc, sai lộ trình, mở cửa khi đang di chuyển, dừng đỗ lâu trên tuyến, …); chức năng cung cấp thông tin trực tuyến (bảng thông tin điện tử báo giờ xe sắp đến, ứng dụng hiển thị xe gần đến trạm trên thiết bị di động, bản đồ trực tuyến, …).
Mô hình ứng dụng Hệ thống xe buýt thông minh
Hệ thống xe buýt thông minh đã được triển khai cho Trung tâm Vận tải hành khách công cộng – Sở GTVT Tp.HCM kết nối ~3.000 xe buýt công cộng có gắn thiết bị giám sát hành trình do 12 doanh nghiệp vận tải đầu tư, sử dụng dịch vụ của nhiều nhà cung cấp dịch vụ giám sát hành trình; ~ 4.000 trạm, bến xe buýt; ~17.000 chuyến xe/ngày; ~12 triệu event/ngày; cung cấp dịch vụ trực tuyến cho người dân tại địa chỉ http://cms.ebms.vn/
Giám sát và điều hành xe buýt trực tuyến trên bản đồ số
“Dự án đầu tư hệ thống vé điện tử thông minh dùng trong lĩnh vực vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt tại Thành phố Hồ Chí Minh theo hình thức PPP” được FIS FTS xây dựng nhằm đáp ứng cho toàn bộ mạng lưới xe buýt công cộng, sẵn sàng cho việc mở rộng và tích hợp với các hệ thống vận tải hành khách khối lượng lớn như xe buýt nhanh (BRT), hệ thống tầu điện ngầm (MRT), hệ thống đường sắt đô thị, … sắp đưa vào khai thác tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Sơ đồ nguyên lý hệ thống vé điện tử áp dụng cho vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt
Tiếp nối thành công của Hệ thống xe buýt thông minh, FIS FTS nghiên cứu, triển khai giải pháp phân tích dữ liệu trực tuyến từ thiết bị giám sát hành trình phục vụ dự báo tình trạng giao thông, cảnh báo sự cố giao thông, dự báo thời gian di chuyển, … trên nền bản đồ số.
Dự báo tình trạng giao thông, dựa trên phân tích dữ liệu trực tuyến từ thiết bị giám sát hành trình lắp đặt trên xe buýt
Bổ sung cho dữ liệu trực tuyến từ thiết bị giám sát hành trình, giải pháp thu thập các thông số giao thông như lưu lượng dòng xe, mật độ dòng xe, vận tốc dòng xe, … FIS FTS nghiên cứu sử dụng công nghệ xử lý hình ảnh (Video Image Processing)  và triển khai đã được FIS FTS nghiên cứu, triển khai cho ~500 camera giám sát giao thông đa chủng loại, đa công nghệ, được đầu tư bởi nhiều dự án, do nhiều đơn vị quản lý khai thác tại thành phố Hồ Chí Minh bao gồm CSGT, Sở GTVT, VOV giao thông … cung cấp thông tin về tình trạng giao thông trực tuyến tại địa chỉ http://thongtingiaothong.vn
Giải pháp thu thập thông số giao thông sử dụng công nghệ xử lý hình ảnh do FIS FTS nghiên cứu, triển khai
Điều quan trọng nhất để triển khai hiệu quả ITS cho một đô thị là phải đưa nó vào trong khái niệm quản lý giao thông. Ở đây, hệ thống ITS được hiểu là những công cụ cần thiết để thực hiện các chiến lược và giải pháp quản lý giao thông, sử dụng các ứng dụng ITS tác động vào tổ chức giao thông nhằm cân bằng một cách tối ưu giữa nhu cầu giao thông và khả năng đáp ứng của cơ sở hạ tầng.
Một hệ thống giao thông thông minh tổng thể cho một đô thị phải đảm bảo phục vụ cho các hoạt động giao thông công cộng (GTCC) và giao thông cá nhân (GTCN). Vì thế nó ; đòi hỏi sự triển khai đồng bộ và sự kết nối của từng hệ thống ITS bao gồm tích hợp về  2 mặt. Mặt thứ nhất làmặt sự tích hợp chức năng của các hệ thống thành phần nhằm đảm bảo khả năng cộng tác (Interoperability) kết nối các ứng dụng cũng như, đảm bảo chức năng của ứng dụng này với chức năng ứng dụng khác có thể hoạt động cùng nhau. Mặt thứ hai là sự, tích hợp về kỹ thuật đảm bảo khả năng liên thông (Interconnectivity) kết nối các thiết bị và công nghệ có thể hoạt động chung với nhau, bao gồm chia sẻ dữ liệu giữa các thiết bị ngoại vi, truyền tập tin, tạo các kênh giao tiếp… phục vụ cho việc thu thập và xử lý số liệu giao thông trực tuyến.
Các hệ thống con cần thiết trong một hệ thống ITS đô thị
Đối với hệ thống ITS cho đô thị, nơi có hàng loạt xe thông minh thì dữ liệu đòi hỏi tính tức thời như điều khiển giao thông, tránh ùn tắc ở mỗi giao lộ trong thành phố đầy xe thông minh; truyền tải thông tin cần thiết, cảnh báo, trợ giúp kịp thời đến người tham gia giao thông … . Ddo đó sẽ cần phải có khả năng phân phối dữ liệu thông minh để, giảm nhẹ dung lượng truyền tải trên mạng lưới bằng cách chỉ phân phối những thông tin liên quan đến thay đổi các thông số giao thông nhằm đảm bảo tính chính xác, thông tin cập nhật, có thể thích ứng với hàng triệu thiết bị đầu cuối kết nối trong một hệ thống ITS. Các điều kiện cơ bản đảm bảo tính khả thi của giải pháp ITS cho đô thị sẽ được giải quyết nhờ một số đặc tính cơ bản và yêu cầu ở mức High-level của một hệ thống IoT:
Đặc tính cơ bản (The fundamental characteristics of the IoT – Rec.ITU-T Y.2060):
  • Tính kết nối liên thông (Interconnectivity): với IoT, bất cứ điều gì cũng có thể kết nối với nhau thông qua mạng lưới thông tin và cơ sở hạ tầng liên lạc tổng thể.
  • Tính không đồng nhất (Heterogeneity): các thiết bị trong IoT là không đồng nhất vì nó có phần cứng khác nhau, và network khác nhau. Các thiết bị giữa các network có thể tương tác với nhau nhờ vào sự liên kết của các network.
  • Thay đổi linh hoạt (Dynamic
  • changes): Status của các thiết bị tự động thay đổi, ví dụ, ngủ và thức dậy, kết nối hoặc bị ngắt, vị trí thiết bị đã thay đổi,và tốc độ đã thay đổi… hơn nữa số
  • Người dùng.
  • Các khả năng dựa vào vị trí (Location-based capabilities): thông tin liên lạc và các dịch vụ liên quan đến một cái gì đó sẽ phụ thuộc vào thông tin vị trí của Things và người sử dụng. Hệ thống IoT có thể biết và theo dõi vị trí một cách tự động. Các dịch vụ dựa trên vị trí có thể bị hạn chế bởi luật pháp hay quy định, và phải tuân thủ các yêu cầu an ninh.
  • Khả năng quản lý (Manageability): hệ thống IoT cần phải hỗ trợ tính năng quản lý các Things để đảm bảo network hoạt động bình thường. Ứng dụng IoT thường làm việc tự động mà không cần sự tham gia người, nhưng toàn bộ quá trình hoạt động của họ nên được quản lý bởi các bên liên quan.
Internet of Things, Internet của vạn vật, là xu hướng phát triển tất yếu, sẽ có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống. Với vị thế tiên phong trong việc nghiên cứu, triển khai ITS cho các đô thị tại Việt Nam cùng với kinh nghiệm tích hợp các hệ thống lớn, FPT IS hoàn toàn có đủ năng lực nghiên cứu, nhanh chóng ứng dụng IoT phục vụ triển khai giải pháp tích hợp hệ thống ITS về mặt kỹ thuật cho các đô thị, phù hợp với đặc thù giao thông hỗn hợp và khó quản lý như tại Việt Nam và sau đó hoàn toàn có thể triển cho các đô thị khác trên thế giới. Bên cạnh vấn đề tích hợp hệ thống ITS và IoT về mặt kỹ thuật, thách thức trong việc triển khai ITS tại Việt Nam là vấn đề tích hợp về mặt tổ chức, hoàn thiện khung chính sách nhằm gắn kết các hoạt động phối hợp giữa các Bộ, Ngành liên quan (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an). Khi vấn đề này được giải quyết ta sẽ dễ dàng để xây dựng, quản lý, điều hành hệ thống giao thông thông minh của một thành phố, của một vùng và xa hơn nữa là việc tích hợp các hệ thống cho toàn Quốc gia./.
Tài liệu tham khảo:
[1]. Overview of the Internet of Things  – Recommendation ITU-T Y.2060
[2]. TS. Đỗ Quốc Cường, ThS. Trần Việt Yên – Bộ môn Đường bộ, Trường Đại học Giao thông vận tải Hà Nội, Ứng dụng hệ thống giao thông thông minh (ITS) cho các đô thị của Việt Nam – cơ hội và thách thức.
Nguyễn Toàn Thắng
Tin liên quan:
  • 1
    Share