Các ông lớn công nghệ như Amazon, Facebook, Google và Apple bị cáo buộc liên quan tới tình trạng thao túng và độc quyền trong một bản báo cáo hơn 400 trang của Hạ viện Mỹ.

Tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ tại Washington D.C., Hoa Kỳ ngày 6/10. Ảnh: Stefani Reynolds/ Bloomberg.

1. Apple

Theo báo cáo, Apple sử dụng sức mạnh độc quyền tại thị trường của mình gây hại cho đối thủ và người tiêu dùng. Cụ thể, Apple khai thác các nhà phát triển ứng dụng thông qua việc chiếm đoạt thông tin nhạy cảm có tính cạnh tranh và thu mức phí “cao cắt cổ” lên đến 30% đối với các nhà phát triển ứng dụng trên App Store.

Logo của WWDC20 trong Hội nghị các nhà phát triển toàn cầu của Apple. Ảnh: Andrew Harrer / Bloomberg.

Hơn nữa, Apple cũng bị cáo buộc sử dụng quyền kiểm soát hệ điều hành và cửa hàng ứng dụng để tạo ra các quy tắc có lợi cho mình, gây trở ngại cho nhiều nhà phát triển ứng dụng, phân biệt đối xử/loại trừ đối thủ khi ưu tiên sản phẩm riêng của mình.

Báo cáo dẫn lời của cựu Trưởng bộ phận phê duyệt ứng dụng App Store, ông Phillip Shoemaker cho biết các giám đốc điều hành tại Apple sẽ tự tìm lý do nhằm xóa các ứng dụng cạnh tranh với Apple. Một ứng dụng đồng bộ hóa Macbook và iPhone đã bị từ chối phát hành trên App Store mặc dù không vi phạm bất kỳ chính sách nào, ngay sau đó Apple cũng phát hành một công cụ tương tự cho hai thiết bị trên.

Tiểu ban tố Apple luôn tìm kiếm và sao chép các ứng dụng phổ biến trên App Store, như nhà đồng sáng lập Apple Steve Jobs từng nói “Chúng tôi lấy cắp ý tưởng của người khác mà không hề xấu hổ.”

Đáp trả cáo buộc này, Apple khẳng định: “Chúng tôi không chi phối bất kỳ ngành hàng nào trong thị trường. Tỷ lệ hưởng hoa hồng của Apple chắc chắn nằm trong xu hướng phát triển của các cửa hàng ứng dụng khác.”

2. Amazon

Tiểu ban cáo buộc Amazon độc quyền đối với nhiều nhà cung ứng và thương gia bên thứ ba. Thị phần của Amazon trên thị trường bán lẻ trực tuyến Mỹ là 40%, song một số ước tính lên tới 50% hoặc hơn. Báo cáo tuyên bố “sức mạnh thị trường của Amazon đang ở đỉnh cao” khi nói tới quan hệ của hãng với thương gia bên thứ ba trên nền tảng, “giúp công ty có đặc quyền riêng và gây bất lợi cho các đối thủ cạnh tranh”.

Container vận chuyển hàng của Amazon tại cảng Baltimore, Maryland, Hoa Kỳ, ngày 23/3/2020.

Nhiều người bán cũng phàn nàn không thể chuyển sang các trang bán hàng thay thế khác, do Amazon có thị phần mua sắm trực tuyến khổng lồ ở Hoa Kỳ.

Đại dịch Covid-19 thúc đẩy xu hướng mua sắm trực tuyến tại Mỹ, sức mạnh thị trường của Amazon càng tăng lên. Tiểu ban cáo buộc công ty đã sử dụng điều này để gây áp lực lên các nhà cung cấp, ưu tiên các sản phẩm do mình sản xuất hơn những sản phẩm của bên thứ ba.

Ban đầu, do doanh số bán hàng gia tăng đột biến, Amazon đã từ chối nhận và giao các nguồn cung cấp không thiết yếu từ người bán bên thứ ba. Trong khi đó, công ty vẫn tiếp tục vận chuyển các sản phẩm không thiết yếu của riêng mình, đồng thời hạn chế các bên thứ ba bán hàng qua kênh phân phối thay thế khác.

3. Google

Google đã sớm lường trước được mối đe dọa từ “các công cụ tìm kiếm vertical search engine” và vô hiệu hóa chúng. Các công cụ tìm kiếm vertical search engine chỉ tập trung vào một thị trường ngách cụ thể, chẳng hạn như TripAdvisor Inc. dành cho các bài đánh giá du lịch, Monster dành cho các tin tuyển dụng và Yelp Inc. dành cho các doanh nghiệp địa phương.

Logo của Google Inc. bên trong trụ sở chính tại Quảng trường Six St Pancras, London. Ảnh: Chris Ratcliffe / Bloomberg.

Google phân trần rằng công ty thêm các công cụ tìm kiếm của mình cho nhiều danh mục trong nhiều năm, nhằm giúp người dùng tìm kiếm nhanh hơn. Tuy nhiên, tiểu ban cáo buộc Google đã đẩy mạnh vào những thị trường này để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh phát triển.

Báo cáo trích dẫn các tài liệu của Google, nhằm chứng minh các giám đốc điều hành của Google thảo luận về việc sử dụng kết quả tìm kiếm của Google để quảng cáo các sản phẩm khác của công ty.

“Google đã điều chỉnh thuật toán tìm kiếm của mình, nhằm nâng thứ hạng một số dịch vụ của Google lên trên những dịch vụ do các bên khác cung cấp.”

Google cũng bị cáo buộc sử dụng hợp đồng với các nhà sản xuất thiết bị cầm tay Android để loại bỏ các dịch vụ tìm kiếm, email, thanh toán và các hệ điều hành cạnh tranh.

Google sẵn sàng cung cấp hệ điều hành Android miễn phí, đổi lại các ứng dụng như Gmail và Maps được cài đặt sẵn trong thiết bị của người dùng. Theo báo cáo, trong khoảng từ năm 2009 đến năm 2014, Google đã tăng gấp đôi số lượng ứng dụng cài đặt sẵn. Các email và tài liệu nội bộ mà tiểu ban cung cấp đã cho thấy cách Google từ chối yêu cầu xoá ứng dụng và thương lượng lại thỏa thuận từ bên sản xuất. Trong một email năm 2016, nhân viên của Google đề cao ứng dụng thanh toán của công ty trên thiết bị cầm tay Android hơn phiên bản cạnh tranh từ một nhà sản xuất điện thoại.

Các thoả thuận với Android trên giúp Google củng cố vị trí dẫn đầu của mình trong lĩnh vực Tìm kiếm. Google đã bắt đầu cấp giấy phép cho Android để ngăn chặn các dịch vụ tìm kiếm từ Microsoft và Yahoo.

Google phản bác: “Chúng tôi luôn đề cao cạnh tranh công bằng. Chúng tôi không đồng ý với báo cáo trên, đó là những cáo buộc lỗi thời và không chính xác từ các đối thủ thương mại về dịch vụ Tìm kiếm.”

4. Facebook

Theo báo cáo, Facebook độc quyền trên lĩnh vực mạng xã hội và quảng cáo trực tuyến. Facebook sở hữu Instagram và WhatsApp, hai đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Twitter và Snapchat. Facebook đã không cho phép Instagram phát triển hết tiềm năng, hạn chế số lượng người dùng và các tài nguyên khác, và sử dụng Instagram để hướng lưu lượng truy cập đến Facebook.

Mark Zuckerberg – Giám đốc điều hành của Facebook Inc., giới thiệu Graph Search tại trụ sở Facebook tại Menlo Park, California, Hoa Kỳ, ngày 15/1/2013.

“Đó là hành vi bắt tay thông đồng cho độc quyền nội bộ. Nếu bạn sở hữu hai mạng xã hội, chúng không được phép liên quan, hỗ trợ lẫn nhau.”

Facebook chủ trương theo dõi quá trình phát triển của các đối thủ cạnh tranh yếu thế, đưa ra các chiến lược thu mua và phá hoại, thậm chí còn tồi tệ hơn. Chất lượng của Facebook cũng giảm sút theo thời gian, chính sách bảo vệ quyền riêng tư yếu kém hơn và thông tin sai lệch gia tăng đáng kể.

Một phát hiện bất ngờ từ cuộc điều tra là vụ thâu tóm Instagram vài năm trước. Tài liệu cho thấy trước khi sáp nhập vào Facebook, Instagram là công ty tăng trưởng mạnh mẽ, không phải đối thủ yếu ớt có thể “chết sớm” nếu không có sự hỗ trợ từ Facebook.

Trả lời về vấn đề này, Facebook khẳng định rằng Instagram sẽ không bao giờ thành công nếu vẫn hoạt động độc lập, Instagram và WhatsApp “đạt được thành tựu mới” là nhờ Facebook đã bỏ hàng tỷ USD đầu tư.

Theo Bloomberg

Tin liên quan: