60 năm trước, con trai của một nông dân lĩnh canh đã phát minh ra công nghệ nhận diện gương mặt. Sau đó, vai trò của anh lại bị xóa hoàn toàn khỏi lịch sử. Người này chính là Woody Bledsoe, nhưng rốt cuộc, anh thực sự là ai, và làm việc cho ai?

Ngồi trên xe lăn trước của gara là Woody Bledsoe, hiện đã 74 tuổi, vô cùng ốm yếu do ảnh hưởng của căn bệnh ALS, khiến ông hoàn toàn không thể nói hay đi lại được nữa, và chỉ có thể viết một vài tin ngắn ngủi lên bảng trắng. Tuy nhiên, dù cơ thể đã trở nên như vậy nhưng Woody vẫn rất minh mẫn: khi con trai của ông, Lance, tới thăm căn nhà tại Texas này, ông vẫn có thể chỉ đạo cậu con trai làm mọi việc.

Cụ thể, ông kêu Lance mang cho ông thùng rác kim loại từ sân sau, rồi lại bảo cậu vào nhà lấy diêm và dầu lửa. Sau đó, ông ra hiệu cho cậu lấy hai tập văn kiện được để trong gara.

Hai tập tài liệu này đã ở đó từ khi Lance còn rất nhỏ, và mặc dù cậu đã gần 40, xong Lance vẫn chưa hề thấy bố mở chúng ra lần nào. Cậu cũng biết rằng, chúng không phải những tài liệu tầm thường – được đựng trong loại ngăn chứa mà cậu từng thấy trong các tàu ngầm hạt nhân của Mỹ, nặng, có thể chống lửa, và có khóa số trên mỗi ngăn. Woody sau đó đã viết mật khẩu lên bảng trắng, và khi mở ngăn kéo, Lance đã so sánh trải nghiệm của anh là tương đương với chuyến thám hiểm của Indiana Jones.

Bên trong ngăn kéo là một tập hồ sơ cũ đã ố vàng, và Lance lấy chúng ra rồi mang cho bố – người mà sau đó đã từ từ đốt những tài liệu này trong đống lửa vừa nhóm. Theo Lance, một số tài liệu được đóng dấu “Tuyệt mật” hoặc “Chỉ có bản gốc”, song tất cả đều hoàn toàn bị đốt thành tro.

Lance chỉ có thể đoán những giấy tờ này là gì. Trong gần 3 thập kỷ vừa qua, bố của anh là Giáo sư tại Đại học Texas, với trách nhiệm nghiên cứu và cải tiến lĩnh vực lý luận tự động và trí tuệ nhân tạo. Còn với Lance, thì Woody chỉ là một người tích cực luôn tin vào công nghệ, mà kể từ những năm 1950 đã luôn mong ước về việc xây dựng máy tính với khả năng của con người – từ giải những phương trình toán phức tạp, tham gia giao tiếp, tới chơi bóng bàn.

Tuy nhiên, kể từ những năm đầu của sự nghiệp, Woody vẫn luôn cố gắng giúp máy móc có một năng lực cụ thể, ít được nhắc tới, xong lại rất hiểm nguy: nhận diện gương mặt. Lance cũng biết rằng, những công trình của bố anh về lĩnh vực này đã thu hút sự chú ý của những cơ quan chính phủ tuyệt mật. Cụ thể, nhà tài trợ chính cho Woody là những công ty con của CIA. Vậy, liệu có phải đây là những nỗ lực đầu tiên của chính phủ Mỹ trong việc nhận diện tự động con người trên quy mô lớn hay không?

Hiện nay, nhận diện gương mặt đã trở thành một tính năng bảo mật phổ biến trên điện thoại, laptop, hộ chiếu, cũng như các ứng dụng thanh toán. Với công nghệ này, việc tag bạn bè trên mạng xã hội đã trở nên rất rõ ràng. Tuy nhiên, nó cũng đang dần trở thành một công cụ kiểm soát và theo dõi của chính phủ cũng như doanh nghiệp. Cụ thể, ở Trung Quốc, công nghệ này đã nhận diện tới hàng trăm nghìn người thuộc dân tộc thiểu số Uighur, sau đó đẩy họ tới các “trại cải tạo” để tái giáo dục. Còn ở Mỹ, Cục Nhập cảnh và Hải quan đã phối hợp với FBI để sử dụng công cụ này để tìm kiếm các nghi phạm dựa trên cơ sở dữ liệu về ảnh chụp bằng lái xe, kể cả khi chưa hề có lệnh từ tòa án. Vào hồi năm ngoái, một cuộc điều tra của báo chí đã công bố rằng, các nhà nghiên cứu tại Microsoft và Đại học Stanford đã tập hợp và chia sẻ công khai những bộ dữ liệu gương mặt mà chưa hề được cho phép bởi chính chủ. Những bộ dữ liệu này sau đó đã bị xóa bỏ, xong đã có rất nhiều startup công nghệ, và cả các học viện quân sự tại Trung Quốc đã có được chúng.

Và tất cả những tiến bộ khoa học kể trên, cũng như các vấn đề về đạo đức phía sau chúng, đều khởi đầu từ công trình nghiên cứu về nhận diện gương mặt của Woody vào những năm 1960. Vậy nhưng hầu hết những công trình khởi nguồn này lại không hề được biết tới, và cũng chẳng bao giờ được công khai.

May mắn thay, cho dù dự định của Woody vào ngày hôm đó có là gì đi chăng nữa, thì hầu hết trao đổi về nghiên cứu của ông vẫn tồn tại tới ngày hôm nay. Trong đó bao gồm hàng nghìn trang nghiên cứu chứa đầy 39 hộp được lưu lại tại Trung tâm Lịch sử Mỹ Briscoe, Đại học Texas. Trong những chiếc hộp này là các ảnh chụp người, một số được đánh dấu chi chít bằng các phương trình toán học, biểu thị cho khởi nguồn của một công nghệ mà vài thập kỷ sau đó sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, đáng sợ hơn, xong cũng ngày một thông dụng hơn.

Ảnh chụp Woody Bledsoe trong một nghiên cứu năm 1965. Máy tính đã không thể nhận diện ảnh chụp năm 1945 và 1965 của ông là cùng một người.

Woodrow Wilson Bledsoe – hay còn được gọi là Woody, đã dành cả đời để làm việc. Ông được sinh ra tại thị trấn Maysville, Oklahoma, và dành hầu hết tuổi thơ làm đồng cùng người bố của mình nuôi gia đình Bledsoe với 12 người con. Mẹ của Woody, người từng làm giáo viên, đã sớm nhận ra rằng ông rất thông minh. Trong một nghiên cứu không được công bố từ năm 1976, Woody đã miêu tả mẹ mình là một người luôn khuyến khích và cổ vũ ông.

Bố của Woody qua đời khi ông 12 tuổi, làm gia đình Bledsoe càng lâm vào cảnh lầm than giữa bối cảnh cuộc đại khủng hoảng kinh tế. Vì vậy, ngay sau khi tốt nghiệp trung học, Woody đã tới làm việc tại một trang trại gà, sau đó lại chuyển tới thành phố Norman để học Đại học Oklahoma. Song ông lại bỏ học chỉ sau 3 tháng để gia nhập quan đội trước thềm Chiến tranh Thế giới thứ 2.

Với khả năng toán học của mình, Woody được giao nhiệm vụ ở một văn phòng lương tại Leonard Wood, Missouri, nơi hàng loạt các chiến sĩ khác được huấn luyện. Sau đó, tới ngày 6/7/1944, ngay sau khi chiến tranh bắt đầu, ông được chuyển tới Châu Âu, và ở đó đã nhận được một huân chương hạng Đồng sau khi thiết kế ra một hệ thống giúp hạ tàu thủy vào Rhine.

Được chuyển vào chiến trường Châu Âu vào đúng lúc phe Đồng Minh đang giành chiến thắng, Woody đã có một trải nghiệm tương đối tích cực về chiến tranh. “Thời gian đó thực sự rất thú vị,” ông viết. “Mỗi ngày trên chiến trường lại có cảm giác như một tháng thông thường. Tôi có thể thiểu sao con người lại cuồng loạn về chiến tranh. Chừng nào bạn còn đang chiến thắng và chịu ít tổn thất, thì mọi thứ đều ổn.” Sau đó, ông đã dành mùa hè tiếp theo tại Paris-đã-giải-phóng, với tinh thần trải nghiệm và yêu nước ngày một cao. “Tin tức kinh ngạc nhất tôi từng nghe là nước Mỹ đã sử dụng tới bom nguyên tử,” Woody viết. “Thật may mắn là một vũ khí như vậy lại nằm trong tay Hoa Kỳ chứ không phải kẻ thù.”

Woody đã rất mong chờ được trở lại trường học sau chiến tranh. Ông đã theo học ngành Toán học tại Đại học Utah, và hoàn thành chương trình học trong vòng 2 năm rưỡi, trước khi tiếp tục học Thạc sĩ tại Berkeley. Sau khi có bằng Thạc sĩ, ông tới làm tại Tập đoàn Sandia, New Mexico, tại bộ phận nghiên cứu vũ khí hạt nhân được hỗ trợ bởi chính phủ, cùng với rất nhiều đồng nghiệp xán lạn. Một trong số đó là Stanislaw Ulam, một trong số các nhà phát minh của bom nguyên tử. Tới năm 1956, Woody lại bay tới Marshall Islands để giám sát việc thử nghiệm vũ khí tại Enewetak Atoll – một vùng đất mà sau đó đã chịu ảnh hưởng còn nặng nề hơn cả Chernobyl và Fukushima. Nói về điều này, Woody đã viết: “Tôi rất thỏa mãn vì được giúp tổ quốc giữ vị trí cường quốc mạnh nhất thế giới.”

Sandia cũng là nơi Woody bắt đầu hành trình vào lĩnh vực máy tính – thứ mà sau đó ông sẽ theo đuổi cả đời. Ban đầu, các dòng code của Woody là có liên quan trực tiếp tới phát triển vũ khí hạt nhân, trong đó bao gồm một chương trình giúp tính toán khả năng sai phạm của một vụ tấn công hạt nhân quy mô lớn, trong đó cân nhắc các đặc điểm như: mức độ nổ, điểm nổ, thời gian kích hoạt, gia tốc gió trung bình.

Tuy nhiên, khi lấn sâu hơn vào lĩnh vực máy tính, thì Woody lại trở nên hứng thú với công nghệ nhận diện xu thế tự động, đặc biệt là Machine Learning – một quy trình dạy cho máy tính cách nhận diện những hình ảnh ký tự viết tay không đánh dấu. Ông sau đó cũng hợp tác với người bạn kiêm đồng nghiệp Iben Browning – một nhà phát minh toán đa thức, kỹ sư hàng không, đồng thời là một nhà sinh lý học, rồi cùng nhau tạo ra một phương thức mang tên “n-tuple” (chuỗi gồm n phần tử). Họ bắt đầu bằng việc chiếu một chữ cái in lên một lưới chữ nhật, để mô phỏng một tờ biểu đồ. Sau đó, mỗi ô trong lưới sẽ được đánh một số nhị phân giữa trên việc liệu ô đó có chứa phần nào của chữ hay không: Ô trống sẽ được đánh dấu 0, còn ngược lại sẽ đánh số 1. Sau đó, các ô sẽ được chia thành nhiều cặp, giống như một cặp tọa độ. (Tên n-tuple bắt nguồn từ việc các nhóm này có thể bao gồm một số lượng ô bất kỳ.) Và sau khi thay đổi một vài tính toán nữa, thì máy tính có thể đánh một điểm đặc biệt lên lưới có chữ cái. Sau đó, khi gặp một chữ cái mới, máy sẽ so sánh lưới của chữ cái này với các lưới trong bộ dữ liệu máy tính, cho tới khi tìm ra một chữ cái tương tự.

Điểm đặc biệt của phương thức n-tuple là nó có thể nhận diện được rất nhiều phân hóa khác nhau của cùng một ký tự. Ngoài ra, quy trình trên cũng có thể nhận diện cả những đối tượng khác. Theo một nghiên cứu được đồng thực hiện bởi Robert S. Boyer, một nhà toán học kiêm bạn lâu năm của Woody, phương thức n-tuple đã đặt nền móng cho lĩnh vực nhận diện xu thế, đồng thời cũng là một trong những cố gắng đầu tiên để trả lời câu hỏi, “Làm sao để khiến máy móc hoạt động được như con người?”

Cũng cùng lúc phát triển ra n-tuple là khi Woody bắt đầu mơ về việc tạo ra những máy móc như con người. Khi liệt kê danh sách những kỹ năng mà một máy có nhận thức có thể đạt được, ông đã viết:

“Tôi muốn nó có thể đọc được chữ in cũng như chữ viết tay. Tôi nghĩ về một máy tính ở trong một camera siêu nhỏ, tới mức có thể để trên kính, cùng một tai nghe có thể giúp tôi nhắc tên người bạn hay người quen mà mình gặp trên phố… Bởi lẽ, nó có thể nhận diện được mặt từng người.”

Còn tiếp

 FPT TechInsight
Theo Wired

Tin liên quan: