Một nhà khoa học Đức sống tại London hiện đang nghiên cứu việc lây lan và mức độ nghiêm trọng của đại dịch COVID-19. Trong một buổi phỏng vấn với DW, nhà khoa học này, anh Stefan Flasche đã giải thích cách mình sử dụng toán học và máy tính để dự đoán sự tiến hóa của bệnh dịch này.

Công việc của anh tại Trường vệ sinh và Y học nhiệt đới London có liên quan tới cả toán học và dịch tễ học, hiện anh đã mô hình hóa virus được vài tháng. Vậy anh đã tìm ra điều gì về COVID-19?

Chúng tôi hiện đang nghiên cứu về sự lây lan cũng như các đặc tính của virus, trong đó bao gồm mức độ nghiêm trọng. Vụ bùng phát dịch trên du thuyền ở Yokohama, Nhật Bản đã giúp chúng tôi hiểu được nhiều điều về bùng phát dịch trong môi trường khép kín, nơi ta có thể thực hiện kiểm tra tất cả mọi người. Điều này khiến chúng tôi tin rằng, tỷ lệ tử vong trên số ca nhiễm trên trung bình khoảng 1%, phụ thuộc lớn vào nhóm tuổi. Cụ thể, nguy cơ tử vong thấp hơn rất nhiều ở những người trẻ và tương đối nghiêm trọng đối với người cao tuổi. Tỷ lệ này tăng dần đều từ 50-60 tuổi và tăng đột biến ở nhóm trên 60 tuổi.

Có rất nhiều người đang nhắc tới hệ số lây nhiễm. Vậy hệ số này cụ thể là gì?

Một trong những thông số chủ chốt của mô hình toán học là hệ số lây nhiễm (r – reproduction number). Hệ số này biểu hiện cho số ca lây nhiễm trung bình từ một bệnh nhân trong giả định là dân số đều có thể bị nhiễm. Nếu r > 1, thì bạn có lây cho nhiều hơn 1 người. Còn với COVID-19, ước tính con số này vẫn còn chênh lệch nhẹ, với mức ban đầu là 1 người nhiễm sẽ lây cho từ 2 tới 2,5 người.

Kết quả hình ảnh cho Stefan Flasche

Tại sao khó có thể dự đoán được tổng số ca nhiễm?

Có rất nhiều ca nhiễm không xuất hiện bất cứ dấu hiệu nhiễm bệnh nào, nhưng vẫn có thể phát tán virus, và việc phát hiện những đối tượng này là rất khó khăn. Theo ước tính của chúng tôi, có tới 10-30% việc lây nhiễm bắt nguồn từ những ca như vậy. Trong khi đó, các biện pháp kiểm soát lại chỉ tập trung vào những người bệnh có xuất hiện triệu chứng. Vì vậy, ta đang bỏ qua một lượng lớn đối tượng có khả năng lan truyền bệnh, dẫn tới hậu quả là thất bại trong việc kiểm soát dịch.

Đây là có phải nguyên nhân dẫn tới tình trạng ở Ý?

Ở Ý, có một số ca đã không bị phát hiện và bắt đầu lây nhiễm từ sớm mà không ai hay biết. Mỗi ca tử vong đầu tiên ở một quốc gia lại có nghĩa rằng, có ít nhất 100 người đã tiếp xúc với họ tầm 2 tuần trước đó, và có thể đã tiếp tục lây nhiễm, bởi cần có thời gian thì triệu chứng virus mới đủ nghiêm trọng để gây tử vong. Còn ở hiện tại, thì hệ số lây nhiễm là khoảng 2, và tình trạng lây lan đang tăng theo cấp số nhân. Điều này có nghĩa là với mỗi ca tử vong bị phát hiện thì có tới 1.000 ca nhiễm.

Ta có thể học tập gì từ Trung Quốc và Hàn Quốc – hai quốc gia xảy ra lây nhiễm mạnh trước Châu Âu?

Số ca nhiễm tại Trung Quốc và Hàn Quốc đang giảm dần. Điều này là khá thú vị cho công tác kiểm soát dịch bệnh COVID-19 trên toàn cầu. Cụ thể, hai quốc gia này đã thực hiện nghiêm túc các biện pháp cách ly xã hội, đặc biệt là trong hoàn cảnh hệ thống y tế bị quá tải do lây nhiễm mất kiểm soát. Việc giảm tốc độ lây nhiễm, cũng như hạ số lượng ca nhiễm sẽ giúp giảm tải cho hệ thống y tế, để nó dần thích ứng trở lại. Đồng thời, điều này cũng sẽ khiến ta có thêm thời gian để điều trị, cũng như tìm kiếm các giải pháp phòng bệnh như vắc-xin.

Hiệu quả của biện pháp cách ly xã hội là một tin tốt, song lại không quá tích cực, bởi lẽ một khi các hạn chế bị dỡ bỏ, thì số ca nhiễm sẽ lại tăng – do đa số dân số vẫn chưa miễn dịch được trước virus này. Điều này có nghĩa là, một khi bãi bỏ hạn chế, thì chính phủ sẽ gặp phải nguy cơ do ca nhiễm tăng nhanh. Ngoài ra, các biện pháp kể trên là rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn lên nếp sống người dân và nền kinh tế. Vì vậy, chúng chỉ có thể được thực hiện trong một thời gian ngắn hạn.

Vấn đề lớn nhất là, nếu bạn đóng cửa trường học và hủy bỏ sự kiện quá sớm, thì bạn sẽ phải duy trì biện pháp này trong một thời gian rất dài. Do đó, các nhà lập pháp sẽ phải cân nhắc chỉ sử dụng tới những biện pháp đó khi thực sự cần thiết.

Dưới đây là bản đồ lây nhiễm toàn cầu.

Một số quốc gia đã ra lệnh cấm di chuyển hoặc đóng cửa biên giới. Liệu điều này có gây ảnh hưởng gì hay không?

Mục tiêu của việc hạn chế di chuyển là để hạn chế có thêm người nhiễm nhập cảnh một quốc gia. Điều này sẽ có ý nghĩa nếu con số người nhiễm là còn thấp, bởi lẽ bạn sẽ giảm được khả năng lây nhiễm, cũng như giảm tải cho việc cách ly trong nước, tránh quá tải trong việc nhận diện và theo dấu dịch tễ. Tuy nhiên, khi việc lây nhiễm đã lan tới cả cộng đồng, thì có thêm một số ca từ bên ngoài cũng không đem lại khác biệt gì.

Ta có thể thực hiện biện pháp nào khác hay không?

Một phương thức khác, ít nghiêm trọng hơn, song có hiệu quả thấp hơn, là tập trung vào các nhóm nguy cơ. Thông thường, phương thức này sẽ được thực hiện với các bệnh truyền nhiễm – nhóm nguy cơ sẽ được nhận vắc-xin và liệu pháp điều trị đắt đỏ. Như vậy, một chiến thuật tiềm năng để đối phó với COVID-19 là, nếu ta không thể thay đổi dịch bệnh này, thì ta sẽ bảo vệ những người bị ảnh hưởng lớn nhất bởi nó – tức là cách ly hoàn toàn nhóm người lớn tuổi khỏi xã hội, trên quy mô càng rộng càng tốt.

Có nghĩa là virus này sẽ kéo dài?

Kế hoạch hiện tại là như vậy. Việc kiểm soát lây nhiễm là có thể, nhưng các biện pháp thì lại quá nghiêm trọng, và chỉ khi đó, thì dịch bệnh mới sớm kết thúc. Còn nếu không, thì ta sẽ không thể biết được nó sẽ kéo dài bao lâu, và cũng không có dấu hiệu gì cho thấy đại dịch này sẽ đỡ đi vào mùa hè.

Anh đã nghiên cứu điều này tới vài tháng. Liệu anh có lo lắng không?

Tất cả chúng ta đều nên lo lắng. Mọi thứ sẽ tệ đi trước khi trở nên tốt hơn. Điều quan trọng là, mọi người phải thật lý trí, đồng thời lấy thông tin từ những nguồn tin uy tín.

Theo DW

Tin liên quan: