Đi cùng với làn sóng thứ nhất của đại dịch COVID-19 là sự xuất hiện của hàng loạt các ứng dụng truy vết tiếp xúc (contact-tracing). Điều đáng tiếc là, đa số các ứng dụng này lại không đạt hiệu quả như kỳ vọng. Tại sao lại xảy ra hiện tượng này?

Giữa bối cảnh làn sóng COVID-19 lần thứ nhất, các nhà nghiên cứu tại Đại học Oxford đã xây dựng ra một mô hình máy tính, qua đó chứng minh được rằng, nếu 56% số người dân Anh Quốc tải và sử dụng các ứng dụng truy vết tiếp xúc (song song với việc thực hiện các biện pháp kiểm soát khác), thì đại dịch này sẽ được chấm dứt hoàn toàn ở nước Anh.

Anh chỉ mới áp dụng hệ thống truy vết tiếp xúc vào hồi tháng 11, và vì vậy chưa thể thực sự đánh giá hiệu quả của các ứng dụng dựa trên cơ chế này. Tuy nhiên, nếu nhìn vào các quốc gia khác đã sử dụng những ứng dụng tương tự từ lâu, thì ta có thể thấy rằng – các ứng dụng này hầu như, hoặc thậm chí là hoàn toàn không có tác dụng trong việc phòng chống COVID-19.

Ta không thể phủ nhận hoàn toàn các ứng dụng này, song vẫn phải khẳng định rằng, hiệu quả của chúng là quá thấp, cho dù nhận được rất nhiều sự chú ý, tiền đầu tư, và các chính sách ứng dụng. Ngoài ra, xu thế “giải pháp công nghệ” này còn có thể gây xao nhãng, khiến ta ít tập trung hơn vào các hệ thống truy vết tiếp xúc thủ công. Trên thực tế, Ủy ban Châu Âu cũng đã đặt ra nghi vấn về tiềm năng của các ứng dụng này, liệu rằng chúng có đáng để ta phải đối mặt với các hệ lụy xã hội và pháp lý mà chúng có thể đem lại hay không, nhất là khi có quá ít minh chứng cho tác dụng của chúng.

Theo dự đoán sẽ có từ 67,5% tới 85,5% người dùng ứng dụng tải về các ứng dụng truy vết. Tuy nhiên, thực tế tỷ lệ tải trung bình ở toàn cầu là rất thấp, chỉ ở ngưỡng xấp xỉ 20%. Cụ thể, tỷ lệ này ở Đức là khoảng 21%, ở Ý là 14%, và ở Pháp là chỉ 3%. Hai quốc gia triển khai các ứng dụng này từ đầu là Iceland và Singapore thì có tỷ lệ tải cao nhất thế giới, đạt 40%.

Sở dĩ tỷ lệ nói trên là quan trọng là vì, nếu không có đủ người sử dụng, các ứng dụng truy vết sẽ không thể báo hiệu chính xác cho người dùng liệu họ đã tiếp xúc với người mắc bệnh hay chưa.

Để minh họa rõ hơn, hãy hình dung như sau: Với tỷ lệ tải ứng dụng ở ngưỡng 20%, thì người dùng chỉ có 4% khả năng gặp một người khác cũng sử dụng ứng dụng (giải thích cụ thể có thể xem tại đây). Còn nếu một quốc gia có 40% người dùng ứng dụng, thì cư dân ở đây sẽ có 16% khả năng gặp một người dùng khác. Tất nhiên, các con số này là được tính theo giả định tất cả mọi người dùng đều đang dùng cùng một ứng dụng, hoặc các ứng dụng khác nhau có thể hợp tác với nhau.

Ứng dụng không thể thực hiện truy vết nếu không có nhiều người sử dụng. Ảnh: Esther Barry/Shutterstock

Tuy nhiên, các ứng dụng không nhất thiết cần tới nhiều lượt tải để có thể gây ảnh hưởng. Một báo cáo khác đến từ các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Oxford đã chỉ ra rằng, một hệ thống truy vết tiếp xúc với đủ nhân lực và bao gồm cả thông báo thủ công lẫn số hóa, sẽ có thể giảm từ 4 tới 12% tỷ lệ lây nhiễm và giảm từ 2-15% tỷ lệ tử vong, với điều kiện là tỷ lệ sử dụng ứng dụng đạt tối thiểu 15%.

Bộ Y tế Singapore cũng đã củng cố cho quan điểm này sau khi khẳng định rằng, ứng dụng của họ đã giúp rút ngắn thời gian phát hiện đối tượng tiếp xúc gần và thực hiện cách ly từ 4 ngày nếu sử dụng các biện pháp truyền thống, xuống chỉ còn 2 ngày.

Tuy nhiên, chỉ tải ứng dụng vẫn là chưa đủ – người dùng cần thực sự sử dụng chúng và thực hiện các biện pháp tự cách ly tương ứng nếu nhận được thông báo có tiếp xúc với người bệnh. Theo một nghiên cứu của chính phủ Anh, được thực hiện trên hơn 30.000 người dân, chỉ có 18% chấp nhận thực hiện tự cách ly khi được gọi bởi cơ quan truy vết chính phủ. Và tỷ lệ này thậm chí sẽ còn thấp hơn nếu họ chỉ nhận được thông báo qua ứng dụng.

Thiếu sự tin tưởng

Vậy thì tại sao các ứng dụng truy vết tiếp xúc lại chưa thực sự hiệu quả? Một trong những nguyên nhân chủ yếu sự thiếu tin tưởng của người dân các ứng dụng này, cũng như suy nghĩ không muốn cung cấp dữ liệu cá nhân.

Vào hồi đầu năm đã có nhiều tranh cãi xoay quanh việc nên tải các dữ liệu truy vết lên một mạng dữ liệu trung tâm, hay nên lưu trữ chúng trong chính điện thoại người dùng để đảm bảo tính bảo mật. Đa số các quốc gia đều chọn phương thức thứ 2, ngoại trừ Pháp – cũng là quốc gia có tỷ lệ tải ứng dụng vô cùng thấp.

Ban đầu, Vương quốc Anh cũng từng thử nghiệm mô hình tập trung, trước khi chuyển sang phi tập trung khi vấp phải quá nhiều chỉ trích và vấn đề trong áp dụng. Tuy nhiên, những chỉ trích này đã để lại một ấn tượng tiêu cực cho những người dân Anh về tính hiệu quả và thiếu bảo mật của các ứng dụng truy vết do chính phủ phát triển.

Những hoài nghi này cũng không phải là không có căn cứ. Vì lí do bảo mật, đa số các quốc gia (trừ Iceland) đều sử dụng Bluetooth thay cho GPS để truy vết. Tuy nhiên, việc sử dụng Bluetooth lại dễ xảy ra trường hợp xuất hiện các tiếp xúc chưa hề xảy ra và bỏ qua các tiếp xúc thực sự.

Cụ thể, ứng dụng có thể cho rằng bạn đang tiếp xúc với một người mặc dù hai bạn đang ở hai phía của một bức tường. Trong khi đó, nếu bạn để điện thoại trong túi quần sau, thì nó lại không bắt được tín hiệu từ điện thoại của người đối diện.

Thậm chí, một nghiên cứu so sánh giữa các ứng dụng của Ý, Thụy Sỹ, và Đức, còn chỉ ra rằng, công nghệ này còn không chính xác bằng việc chọn ngẫu nhiên người để thông báo – bất kể khoảng cách của họ với những người khác. Hậu quả là, những thông báo sai đã khiến công chúng trở nên lẫn lộn và mất đi niềm tin vào các ứng dụng truy vết.

Vấn đề về mặt công nghệ

Một điểm yếu khác của các ứng dụng truy vết là, chỉ những người có điện thoại thông minh mới có thể sử dụng chúng. Trong khi đó, tại Anh có tới 61% người trên 65 tuổi không sử dụng điện thoại có kết nối Internet, trong khi đây là nhóm người có nguy cơ lây nhiễm cao nhất.

Để xử lý vấn đề này, ta có thể sử dụng các công nghệ thay thế khác. Tại Singapore, chính phủ đã giới thiệu một token truy vết mà bất cứ ai cũng có thể để trong túi. New Zealand cũng đang cân nhắc sử dụng “thẻ covid” với cơ chế tương tự để xử lý vấn đề tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh.

Tuy nhiên, để các giải pháp trên thực sự có ích, ta lại cần tới một hệ thống kiểm tra và truy vết hiệu quả và có tích hợp quy trình truy vết thủ công – điều mà ít quốc gia hiện tại có được. Cần phải ghi nhớ rằng, không phải bài toán nào cũng có thể được giải quyết bằng công nghệ.

Theo The Next Web

Tin liên quan: