Công nghệ nano đã trở thành một công cụ mới trong y học, với khả năng mang lại những thay đổi lớn trong điều trị cũng như phòng bệnh ung thư.

ẢNH: GETTY IMAGES

Ung thư đại trực tràng là một trong những bệnh lý với tỷ lệ mắc và số ca tử vong lớn trên toàn cầu. Bởi lẽ khối u sẽ di căn trong gần một nửa số người mắc bệnh, chủ yếu là tới gan, gây ra những biến chứng nghiêm trọng. Đáng tiếc thay, với căn bệnh này, các liệu trình điều trị hiện tại như phẫu thuật, hóa trị, và thuốc điều trị sinh học đều không đạt hiệu quả cao. Cụ thể, không phải bệnh nhân nào cũng chịu được phẫu thuật loại bỏ khối u, hóa trị thì bị hạn chế do việc phân phối không chuyên biệt, còn thuốc sinh học thì lại xuất hiện tác dụng phụ, chưa kể tới việc phát sinh kháng thuốc tùy bệnh nhân.

Giữa bối cảnh này, công nghệ nano đã trở thành một công cụ mới trong y học, làm thay đổi việc điều trị cũng như phòng bệnh với nhiều công nghệ khác nhau về kích thước, hình dạng, kết cấu, cũng như chức năng.

Cần phải hiểu qua về cơ chế sinh học và đặc điểm sinh lý của khối u để thiết kế và phát triển ra các nanomedicine cho bệnh ung thư.

Lĩnh vực nanomedicine đã thu hút sự chú ý của cộng đồng nghiên cứu nói chung và nghiên cứu y học nói riêng, bởi lẽ nó đem lại cơ hội giúp thay đổi được việc điều trị ung thư, đồng thời có những lợi thế nhất định so với những liệu trình truyền thống, cụ thể là chu kỳ bán rã dài hơn, cải thiện tính dược động học, cũng như chứa ít độc hơn.

Tuy nhiên, dù hệ thống kể trên là rất linh hoạt và mang nhiều tiềm năng, có rất ít công nghệ thực sự tiến tới môi trường thí nghiệm.

Chính vì vậy, một đội ngũ nghiên cứu tới từ Đại học Liverpool và AstraZeneca đã cố chỉ ra các hạn chế của nanomedicine – hệ quả của các rào cản về sinh và hóa lý, với mục đích là hiểu sâu hơn về những thử thách trong việc ứng dụng tức thì và phổ biến của nanomedicine vào điều trị ung thư.

Nghiên cứu của nhóm đã xác định các đặc điểm của môi trường vi sinh trong khối u, như phân bố mạch, vận chuyển nội tế bào, bệnh lý khối u, các xu thế di căn, những tương tác tế bào trong hạt nano ở gan, và các đặc tính hóa lý và thiết kế của vật mang thuốc. Theo họ, đây là các yếu tố chính, đồng thời là các rào cản để những nhà nghiên cứu thuộc cùng lĩnh vực chung tay chinh phục.

Trên thực tế, để vượt qua những thử thách này, cần phải có một cách tiếp cận liên ngành, giúp thúc đẩy sự phát triển của nanomedicine, thì mới có thể mang công nghệ này tới phòng khám và bệnh nhân. Vì vậy, ta cần phải kết hợp các ý tưởng từ ngành công nghệ nano cũng như sinh học khối u, tạo nên các thiết kế công nghệ dựa trên bệnh lý, tập trung vào những đặc tính sinh học, vật lý học, và hóa học.

Việc vượt qua các rào cản được hy vọng là sẽ giúp nanomedicine có thể đi từ hứa hẹn tới thành phẩm thật sự hữu dụng cho việc điều trị ung thư,” Usman Arshad, nghiên cứu sinh Đại học Liverpool, đồng thời là một tác giả của nghiên cứu đã chia sẻ.

Nếu có thể giải quyết được những khó năng này, công nghệ nano sẽ mang lại tiềm năng lớn trong việc cải thiện tỷ lệ hồi phục của bệnh nhân, thông qua thay đổi liệu pháp điều trị của căn bệnh ung thư quái ác này.

Theo Advanced Science News

Tin liên quan: